Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

10 CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BILL GATES

Trước khi về hưu vào tháng 7/2008, Bill Gates đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp. Biết đâu nhờ học hỏi những lời khuyên bổ ích này, một ngày nào đó bạn sẽ trở thành một Bill Gates thứ hai?
1. “Cuộc sống vốn không công bằng - Hãy tập quen dần với điều đó.”
-> 
Thế giới không bao giờ công bằng. Bạn biết điều này chứ? Bạn không bao giờ có thể thay đổi cả thế giới. Sự bất công luôn tồn tại trong xã hội hiện tại, vì thế hãy cố gắng thích nghi.

2. “Không ai quan tâm đến lòng tự trọng của bạn đâu. Mọi người chỉ trông đợi bạn đạt được điều gì đó trước khi bạn cảm thấy hài lòng về bản thân.”
-> 
Lòng tự trọng thái quá có thể sẽ gây khó khăn cho công việc của bạn. Đừng quá đề cao lòng tự trọng của mình vì điều người ta quan tâm là bạn đạt được gì, chứ không phải là lòng tự trọng.

3. “Bạn sẽ không thể kiếm được 40.000 USD/năm ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Bạn cũng không là một ông sếp lớn có điện thoại gắn trên ô tô cho đến khi bạn kiếm được hai thứ đó.”
-> 
Thường thường, bạn không thể giàu có nếu chỉ vừa mới tốt nghiệp trung học.
 Tuy nhiên, để trở thành một nhà quản lý cấp cao, bạn cần có cả hai: bằng tốt nghiệp trung học và tiền bạc.

4. “Nếu bạn nghĩ rằng giáo viên của mình thật hắc ám thì hãy đợi đến khi bạn làm việc dưới trướng một ông chủ. Rồi bạn sẽ thấy với ông ta thì không có khái niệm nhiệm kỳ nắm quyền.”
-> 
Đừng than vãn rằng sếp của bạn khó tính quá. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn bạn gặp phải đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên, thì bạn đừng nên đi làm. Đơn giản là vì nếu không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty, thì chắc chắn bạn sẽ không làm gì và nhanh chóng thất nghiệp. Và lúc này cũng sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.


5. “Nếu như bạn làm rối tung mọi chuyện lên thì đó không phải lỗi của bố mẹ bạn, thế nên đừng có mà ta thán về lỗi lầm của bạn, hãy rút kinh nghiệm từ chúng.”
-> 
Đừng quy thất bại của bạn cho định mệnh. Tất cả những gì bạn cần hiện giờ là giữ bình tĩnh và bắt đầu lại từ đầu.

6. “Trước khi bạn ra đời, bố mẹ của bạn đã chẳng "đáng chán" như bây giờ. Bố mẹ đã trả những hoá đơn của bạn, giặt giũ quần áo bạn sạch sẽ và lắng nghe bạn kể xem bạn sành điệu như thế nào. Vì vậy trước khi cằn nhằn bố mẹ điều gì thì hãy dọn dẹp buồng ngủ của bạn cho ngăn nắp đi đã.” 
-> 
Bạn nên thể hiện lòng biết ơn của mình với bố mẹ vì đã dành phần lớn cuộc đời nuôi bạn khôn lớn. Sự “cổ lổ sĩ” của bố mẹ bạn ngày nay là cái giá họ phải trả cho sự lớn khôn của bạn.

7. “Ở trường học có thể không có người thắng kẻ thua nhưng ở trường đời thì không phải vậy. Ở một số trường học người ta còn hủy bỏ những điểm rớt và cho bạn cơ hội để bạn giành điểm cao. Trong cuộc sống thực không bao giờ có chuyện như thế đâu.”
-> 
Hãy tự nhủ rằng bạn luôn có thể trở thành người đứng đầu, như vậy bạn sẽ có nhiều động lực hơn để phấn đấu cho sự nghiệp của mình.

8. “Cuộc sống không được chia thành những học kỳ. Bạn cũng chẳng có mùa hè để nghỉ ngơi và rất ít ông chủ nào quan tâm và giúp bạn tìm ra cơ hội này. Hãy tự làm điều mình muốn trong thời gian nhàn rỗi của bạn.”
-> 
Đừng luôn ngóng chờ các ngày nghỉ lễ, nếu không bạn sẽ bị tụt hậu so với đồng nghiệp của mình. Sự tụt hậu này đồng nghĩa với sự đào thải và thất nghiệp.


VietnamWorks

9. “Truyền hình không phải là cuộc sống thực. Trong cuộc sống, người ta phải biết rời khỏi quán cà phê giải trí để đi làm việc.”
-> 
Ai cũng thích xem phim truyền hình. Tuy nhiên, bạn không nên xem quá nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn và tư tưởng của bạn sẽ bị chúng ảnh hưởng. Cuộc sống của bạn nên do bạn quyết định.

10. “Hãy hòa nhã với những kẻ dở hơi. Ai biết được ngày sau và khi đó bạn có thể phải làm việc cho một kẻ như vậy.”

-> 
Bạn nên hòa nhã với mọi người. Trong cuộc sống luôn xảy ra những điều bạn không muốn chút nào. Hãy cởi mở với sếp và đừng nói xấu sau lưng họ vì nó sẽ chẳng giúp ích gì cho bạn đâu.

Những câu nói bất hủ của thế hệ trẻ

Giang hồ hiểm ác
không bằng mạng lag thất thường

Phận làm trai gõ phím bình thiên hạ.
Thân anh hùng click chuột định giang sơn

Mấy đời bánh đúc có xương.
Mấy đời chơi Net không vương tơ tình

Đang đi trên đường. Bỗng thấy bất thường.
Úp mặt vào tường. Lại thấy... bình thường

Trái tim em chỉ 2 lần mở cửa.
Đón anh vào và tống cổ anh ra

Bước đến nhà em, bóng xế tà.
Đứng chờ năm phút bố em ra.
Lơ thơ phía trước vài con chó.
Lác đác đằng sau chổi lông gà
Tình yêu là vĩnh cửu.
Và chỉ duy nhất một thứ được phép thay đổi.
Đó là người yêu

Cần bán gấp nhà 3.000 m2, tường chống đạn, nhiều phòng, an ninh tốt, có camera, công an tuần 24/24. Địa chỉ: Nhà tù bộ công an. Giá thương lượng

-Xin thề : tôi với anh kết nghĩa anh em , tuy không sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày , nhưng nguyện sống cùng ngày cùng tháng cùng năm.

- Thuý Kiều là người rất thương bồ , trước khi ra đi còn đưa tiền cho Kim Trong , bằng chứng : " Trăm nghìn lạy gửi tình quân " <-- trích truyện Kiều. - Định nghĩa mới về vợ : " học dốt nói ngông , đi chơi lông bông , mồm thì khoác lác , mua sắm nát đời , mà câu nào nói ra cũng lời lời đạo lý " - Trăm năm bia đá cũng mòn , bia chai cũng bể , chỉ còn bia ... ôm. - Khi yêu nhau thì người ta thề sống chết có nhau , còn khi ghét nhau rồi thì người ta thường thề sẽ sống chết với nhau. - Hôn nhân luôn tặng bạn một đặc ân : chỉ có ai có nó mới có thể ly dị được. - Nếu bạn lật một cái bình lại thì nó sẽ không có chỗ để cắm hoa, nếu xem xuống phía dưới thì bạn sẽ phát hiện một điều rất hay : " nó cũng không có cả đáy " - Nếu có ai đó khen bạn " bạn có ½ là đẹp , ½ còn lại là tài năng , gộp lại thì vừa đẹp vừa tài năng " , bạn hãy coi chừng { ½ đẹp tức là ½ đó không có chút chất xám nào , ½ tài năng , tức là ½ đó không có chút sắc đẹp nào --> hợp lại hoá ra bạn là một con người vừa xấu vừa ngu đó sao }

- Nghệ thuật che lấp sự bất tài cũng đòi hỏi không ít tài năng.

- Không ít phụ nữ già đi nhanh chóng có khi do họ động não suy nghĩ phải làm sao để mình trẻ lại.
- Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung với họ.

- Phụ nữ đem lại niềm vui nhưng không phải lúc nào cũng vậy , còn thuốc lá thì lúc nào cũng có khói.

- Nhục không phải là nghèo khó , nhưng nghèo khó thì thật là nhục.

- Ngắn gọn thể hiện sự thông minh nhưng không đúng trong trường hợp người ta nói " Anh yêu em "

- Đằng sau sự thành công của một người đan ông luôn có hình bóng của một người đàn bà , và đằng sau sự thất bại của một gười đan ông là một người đàn bà thật sự .

- Thể thao là có hại . Nếu ta sống được thêm 10 năm nhờ luyện tập thì ta cũng mất 15 năm vào các buổi tập luyện đó.

- Tại sao chỉ có danh hiệu bà mẹ việt nam anh hùng mà không có danh hiệu ông bố việt nam anh hùng nhỉ ? .
- Tình yêu là bất tử , chỉ có người yêu là thay đổi.

- Hài kịch sẽ chuyển sang bi kịch nếu không bán được vé.

- Một người vợ tốt luôn tha thứ cho chồng khi cô ta sai.

- Ly dị là sự kiện mà người đàn ông phải giặt đồ cho mình ... thay vì trước đó phải giặt đồ cho cả hai .

- Con đường ngắn nhất để đi từ một trái tim đến 1 trái tim là con đường truyền máu.

- chân lý là mặt trời chói lọi . Nếu bạn không nghiên cứu về nó thì đừng có điên mà nhìn vào nó .
Theo lý thuyết thì Lý thuyết không khác với thực tế là mấy , nhưng thực tế thì thực tế khác xa lý thuyết.
- Thuoc la co hai suc khoe == hút thuốc lá thì ta có được đến 2 sức khoẻ dại gì mà không hút.

- Lương tâm là cái gì đó cảm thấy tổn thương trong khi các phần khác của cơ thể cảm thấy dễ chịu.

- Lương tâm là cái buộc ta phải kể hết mọi bí mật cho người tình trước khi có ai đó mách.

- Thà sống hèn còn hơn chết dại.

- Bạn có thể mua một người trung thực không ? Không ! nhưng bán một người như vậy dễ hơn .

- Khi một cô gái được nhiều người theo đuổi cô ta sẽ làm cao , khi cô ấy được một người theo đuổi thì cô ta sẽ làm dáng , khi không có ai theo đuổi cô ấy cô ta sẽ làm ... thơ , và khi cô ta theo đuổi nhiều người cô ta sẽ làm ca ... ve.
- Bia độc hơn rượu , bằng chứng trên thế giới chỉ có " mộ bia " mà không có " mộ rượu "

- Đàn ông không khóc là đàn ông nhút nhát (không dám làm gì (khóc) là nhút nhát rồi).

- Không có gì tiết kiệm thời gian và tiền bạc hơn là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.

- Một người phụ nữ toàn diện : sáng diện , trưa diện , chiều diện , tối diện.

- Thiếu nữ là chữ viết tắt của thiếu ... nữ tính.
- " Quân với dân như cá với nước " Nước thì nuôi sống cá còn cá thì ị vào nước.

- Phim sạch là phim trong sáng . Phim sạch là phim mà diễn viên lúc nào cũng ở trạng thái sạch sẽ và được người khác liếm láp cho sạch.

Trăm lời anh nói không bằng làn khói a còng @

Rõ ràng là trên đời này không có gì là rõ ràng

Vì tao chắc chắn là trên đời này không có gì là chắc chắn.

Cách tốt nhất để giữ lời hứa là đừng hứa gì cả.

Tôi đã nói "không" với ma túy, nhưng tụi nó không chịu nghe

Luôn luôn nhớ rằng bạn là duy nhất ... giống như những người khác

Luôn cố gắng khiêm tốn, và hãy lấy làm ... tự hào về điều đó
Khổ quá, sướng không chịu nổi

Đừng tự ti vì mình nghèo mà vẫn giỏi mà hãy tự hỏi tại sao mình giỏi mà mình vẫn nghèo.

Sáng soi, trưa đánh, chiều chờ
Cầm tờ kết quả cứ đờ mặt ra.

Điều tuyệt đối nhất chính là tất cả chỉ là tương đối

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

Sự tích 14 ngôi sao đỏ trên chiếc MiG21

Người sĩ quan Bảo tàng Quân đội thuyết minh rằng cứ một ngôi sao đỏ trên thân máy bay là tương ứng với một chiến công do chiếc MiG 21 này của không quân ta thực hiện: Bắn hạ 1 chiếc máy bay Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc...


Trước tiền sảnh Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, hằng ngày người qua lại trên đường Điện Biên Phủ và khách đến tham quan bảo tàng đều diện kiến chiếc chiến đấu cơ tiêm kích MiG 21 mang số hiệu 4324 với 14 ngôi sao đỏ, trên bệ trưng bày hiện vật - một trong những vật chứng đặc biệt về chiến tích của Không quân nhân dân Việt Nam. Sự tích kỳ diệu của những ngôi sao đỏ chiến công ấy như thế nào? Nhân Kỷ niệm 66 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, xin cùng bạn đọc tìm hiểu điều thú vị này.

Sự xuất hiện chiếc tiêm kích lặng lẽ trên đường phố Hà Nội trong đêm

Vào một đêm mùa đông đầu tháng 12-1974 khi người Hà Nội đang yên giấc sau một ngày lao động, chiến đấu trên các đường phố Thủ đô chỉ còn các tốp chiến sĩ cảnh sát tuần tra đêm, bỗng có một chiếc tiêm kích MiG 21 sáng màu ánh bạc - đã tháo đôi cánh - từ sân bay Bạch Mai trườn trên mặt đất ra đường Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) lặng lẽ tiếp tục lăn đôi bánh lốp, cơ động sang đường Điện Biên Phủ, rồi ngoặt vào sân sau Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam). Ngay ngày hôm sau chiếc máy bay này đã được Bảo tàng Quân đội ghi vào danh mục hiện vật lưu giữ đặc biệt mang số BTQĐ 5800K/4324 và các nhân viên kỹ thuật đã lắp đôi cánh vào thân máy bay hoàn chỉnh.

Điều hấp dẫn sự “tò mò” của du khách là trên thân phía đầu chiếc MiG 21/4324 người ta thấy có 14 ngôi sao đỏ in đậm rực rỡ thành 3 hàng. Người sĩ quan Bảo tàng Quân đội thuyết minh rằng cứ một ngôi sao đỏ trên thân máy bay là tương ứng với một chiến công do chiếc MiG 21 này của không quân ta thực hiện: Bắn hạ 1 chiếc máy bay Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc năm 1967. Và, cứ mỗi phi công bắn rơi 1 máy bay Mỹ, được Bác Hồ thưởng một Huy hiệu mang chân dung Người.




Phi công Nguyễn Văn Cốc báo công với
Bác Hồ năm 1967, Người nói: “Bác mong có nhiều Cốc hơn nữa”


Ngược dòng thời gian, giở lại lịch sử hồ sơ tư liệu từ hơn 40 năm trước lưu giữ tại Bảo tàng Không quân, Bảo tàng Quân đội; qua tiếp xúc với Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, nguyên Uy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng và Trung tướng Nguyễn Văn Cốc, nguyên Chánh thanh tra quân đội - là hai trong số các phi công đã từng trực tiếp lái chiếc 4324 này - mỗi người đã hạ hai máy bay Mỹ - góp chiến công tạo nên 4 ngôi sao đỏ trong 14 ngôi sao rực rỡ kia trên thân máy bay - luôn tồn tại với thời gian; nay đã thành những nhân chứng lịch sử gắn liền với sự kiện đặc biệt này.

Đúng vào ngày kỷ niệm 34 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1964, với Quyết định số 18/QĐ của Bộ Quốc phòng, Trung đoàn không quân tiêm kích 921 đầu tiên thuộc sư đoàn không quân 371 của không quân nhân dân Việt Nam ra đời. Tuy với tuổi quân còn rất trẻ, nhưng lực lượng không quân ta đã lập nên những chiến công chói lọi đáng tự hào - bắn rơi 320 chiếc máy bay Mỹ với 19 chủng loại, gồm có cả pháo đài bay chiến lược B52 - con át chủ bài - niềm hy vọng lớn nhất của không lực Hoa Kỳ trong mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc hòng đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Trong đó có chiến công của chiếc MiG 21 mang số hiệu truyền thống 4324 góp phần. Chỉ trong năm 1967, với 9 phi công của Trung đoàn không quân MiG 21 921 thay nhau trực chiến đã lần lượt xuất kích 69 lần, đối mặt với không quân Mỹ 22 lần, thực hiện 16 trận không chiến. Với 25 quả tên lửa không đối không, đã bắn tan xác 14 phản lực cơ của Mỹ gồm cả các loại Thần sấm, Con ma, Chim ưng nhà trời, trinh sát điện tử... mà vẫn bảo đảm an toàn cả máy bay và phi công.



Chiếc tiêm kích MIG21/4324 với 14 ngôi sao đỏ

Không chiến - những chiến tích ngoạn mục

Đó là trận chiến thắng khởi đầu vào lúc 10 giờ 29 phút ngày 30-4-1967, phi công Lê Trọng Huyền mở đầu trận không chiến bắn rơi chiếc F105 (đầu tiên) trên vùng trời tỉnh Bắc Thái; anh cũng là phi công được ghi ngôi sao đỏ thứ nhất trên chiếc MiG21/4324. Tiếp theo ngày 4-5, phi công Phạm Thanh Ngân giáp trận không chiến thứ hai trong mấy phút đã hạ chiếc F105 (thứ 2) trên vùng trời Tam Đảo - Vĩnh Phúc, là người được ghi ngôi sao đỏ thứ hai trên chiếc tiêm kích này. Ngay ngày hôm sau 5-5 phi công Nguyễn Ngọc Độ hạ chiếc F4 (thứ 3) trên vùng trời tỉnh Bắc Thái. Ngày 5-6 phi công Nguyễn Văn Lý hạ chiếc F105 (thứ 4) trên vùng trời tỉnh Tuyên Quang. Ngày 5-7 phi công Nguyễn Văn Huyên hạ chiếc A4 (thứ 5) trên vùng trời tỉnh Hải Dương - là người được ghi ngôi sao đỏ thứ năm (hàng thứ nhất) trên thân MiG21/4324. Rồi chiến công nối tiếp chiến công, ngày 10-9 phi công Nguyễn Hồng Nhị hạ chiếc RF101 (thứ 6) loại trinh sát điện tử hiện đại nhất của Mỹ lúc đó - nó bị tan xác trên vùng trời Mộc Châu - Sơn La. Đến lúc này trên thân MiG21/4324 đã có 6 ngôi sao đỏ được ghi và 6 phi công được Bác Hồ thưởng Huy hiệu của Người.

Trên trang vàng chiến tích không quân Việt Nam nối tiếp ghi nhận trong 2 tháng cuối năm 1967 là thời kỳ chiếc tiêm kích MiG21/4324 lập nên nhiều chiến công dồn dập hơn hẳn trong 6 tháng trước đó của năm này. Đó là đúng vào ngày kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917-7/11/1967) hai phi công Nguyễn Hồng Nhị và Đặng Văn Ngự lần lượt thay nhau lái chiếc tiêm kích này xuất kích không chiến đánh hạ chiếc F4 (thứ 7) và chiếc F05 (thứ 8) trên vùng trời Hà Bắc và Yên Bái.

Cũng trong tháng 11-1967 phi công Phạm Thanh Ngân lại lập chiến công lần thứ hai khi lái chiếc MiG21/4324 hạ chiếc F105 (thứ 9) trên vùng trời Phú Thọ ngày 18-11. Tiếp theo sau đó 2 ngày, phi công Nguyễn Văn Cốc cũng với chiếc tiêm kích này đã hạ chiếc F105 (thứ 10) trên vùng trời Vĩnh Phú, và là người được ghi ngôi sao đỏ thứ mười (hàng thứ hai) trên thân én bạc. Sau trận không chiến đó, anh cùng với đồng đội trong Trung đoàn không quân 921 được đến báo công với Bác Hồ, Người rất vui chúc không quân ta có nhiều phi công bắn rơi máy bay Mỹ như chú Cốc, Bác mong không quân ta có nhiều Cốc để Bác thưởng Huy hiệu.

Càng thua nặng ở chiến trường miền Nam, không quân Mỹ như con bạc khát nước càng gia tăng cường độ xuất kích leo thang ra đánh phá miền Bắc, thì số lượng máy bay của chúng bị ta bắn rơi càng nhiều. Phát huy thắng lợi bắn hạ 4 chiếc trong tháng 11, sáng tháng 12-1967 - tháng kỷ niệm 23 năm thành lập Quân đội nhân dân, MiG21/4324 lại xuất kích đánh rơi 4 chiếc nữa. Đó là ngày 12-12 phi công Nguyễn Văn Cốc lập chiến công tiếp bắn hạ chiếc F105 (thứ 11) trên vùng trời Hà Bắc. Ngày 17-12 phi công Vũ Ngọc Đỉnh xuất kích cùng với biên đội không quân bạn chặn bắn đội hình 32 chiếc thần sấm, con ma đang lao vào đánh phá Hà Nội, anh đã hạ 2 chiếc F105 (thứ 12 và 13). Tiếp theo ngày 19-12, phi công Nguyễn Đăng Kích đã đánh hạ chiếc F4 (thứ 14) trên vùng tời Tam Đảo và là người được ghi ngôi sao đỏ thứ 14 (hàng thứ 3) trên thân MiG21/4324.

Những phi công Anh hùng

Hiện nay chiếc MiG21/4324 từ phía sân sau đã được chuyển ra phía trước tiền sảnh Bảo tàng để ai ai đi qua đây đều được chiêm ngưỡng và hồi tưởng lại ký ức của một thời đất nước có chiến tranh. Vậy là chỉ trong năm 1967 với 9 phi công ta đã không chiến bằng chiếc MiG21/4324 đánh hạ 14 máy bay Mỹ với 4 chủng loại (9 chiếc F105, 3 chiếc F4, 1 chiếc A4, 1 chiếc RF101). Trong đó 6 phi công được Nhà nước vinh danh, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, gồm: Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Hồng Nhị và Đặng Ngọc Ngự. Trong đó cùng với chiến công sử dụng MiG21 khác phi công Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi 9 chiếc, phi công Phạm Thanh Ngân và Nguyễn Hồng Nhị mỗi người bắn rơi 8 chiếc - được Bộ Quốc phòng đưa tên vào Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam – là những phi công bắn rơi nhiều máy bay địch nhất, trong đó Anh hùng Nguyễn Văn Cốc đạt kỷ lục 9 chiếc, được thưởng 9 Huy hiệu Bác Hồ và nhiều Huân chương.

Một bí mật quân sự khác về sự huyền bí của chiếc tiêm kích này nay mới được giải mã. Số là theo tính năng kỹ thuật thì loại tiêm kích MiG21 được sử dụng tới 1.200 giờ bay. Nhưng đến tháng 12-1967 sau khi đã anh dũng chiến đấu lập nên nhiều chiến công xuất sắc, hiệu suất chiến đấu cao với 14 ngôi sao đỏ, chiếc máy bay này chỉ mới sử dụng hết 2/3 thời gian quy đinh (bằng 800 giờ bay), còn có thể tiếp tục xuất kích 400 giờ bay nữa. Nhưng để lưu lại một vật chứng với nhiều chiến tích đặc biệt hiếm có của một quân chủng hiện đại, giữ gìn truyền thống cho các thế hệ nối tiếp kế tục, ngày từ cuối năm 1967, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đã quyết định cho chiếc MiG21 đầy ắp chiến công này được “nghỉ dưỡng” trước thời hạn. Đồng thời giao cho Bộ Tư lệnh Phòng không - không quân đưa vào nơi bí mật an toàn cất giấu, bảo quản suốt 7 năm. Cho đến dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đội nhân dân, ngày 4-12-1974 nó mới được đưa từ sân bay Bạch Mai về Bảo tàng Quân đội và được “trình làng” từ ngày 20-12 năm đó. Đến nay đã có hàng triệu lượt khách đến tham quan, chiêm ngưỡng, nghiên cứu lịch sử chiếc tiêm kích huyền thoại anh hùng này - gắn kết giữa những di tích lịch sử và thời đại ngay bên cạnh Cột cờ Thành đô cổ kính trong quần thể Hoàng thành Thăng Long.

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

PHÁT HIỆN THÊM MỘT TÀI LIỆU VỀ CHỦ QUYỀN VN

MỘT TÀI LIỆU HÁN NÔM VIẾT VỀ HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
THUỘC CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Trịnh Khắc Mạnh

Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo nằm ở Biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam. Hai quần đảo này từ rất lâu đã trở thành địa điểm của cư dân Việt Nam sinh sống và khai thác sản vật, thành đối tượng ghi chép và nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Căn cứ vào các tài liệu Hán Nôm và những ghi chép của người nước ngoài, các nhà khoa học đã chứng minh chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, đây là những căn cứ vững chắc về khoa học và pháp lý. Xin nêu một số công trình như: 
- Từ Đặng Minh Thu: Cuộc tranh chấp về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Các vấn đề pháp lý, Trường Đại học Luật, Kinh tế và Khoa học xã hội Paris (chưa rõ năm). 
- Đinh Phan Cư: Chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Học viện Quốc gia Hành chính, Luận văn tốt nghiệp, Sài Gòn, năm 1972. 
Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (gồm các bài viết của Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Tuấn Anh, Lãng Hồ, Nguyễn Nhã,... gồm 13 tác giả), Tập san Sử Địa, số 29/1975. 
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Lãnh thổ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1984. 
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Bộ phận lãnh thổ Việt Nam, Nxb. Quân đội Nhân dân, H., 1988. 
- Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an Nhân dân, H.1995. 
- Nguyễn Nhã: Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, bảo vệ tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, năm 2002. 
- Nguyễn Q. Thắng: Hoàng Sa Trường Sa lãnh thổ Việt Nam - Nhìn từ công ước quốc tế, Nxb. Tri thức, 2008. 
Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam (gồm các bài viết của Nguyễn Nhã, Nguyễn Đỉnh Đầu, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt), Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2008. 
Nhưng các công trình trên đều không nêu dẫn một tác phẩm Hán Nôm có ghi chép về Hoàng Sa, đó là bộ Đại Việt sử kí tục biên 大越史記續編 (còn có tên Hậu Lê thời sự kỷ lược 後黎時事紀略). Để bổ sung tư liệu quan trọng có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý và thực tế để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, chúng tôi xin trích giới thiệu đoạn văn ghi chép về Hoàng Sa - Trường Sa trongĐại Việt sử kí tục biên (Hậu Lê thời sự kỷ lược).
Đại Việt sử kí tục biên là bộ sử viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1676 - 1789, và được chúa Trịnh Sâm sai biên soạn vào năm 1775, chính trong tác phẩm đã ghi rõ điều này: “Chúa sai làm quốc sử. Từ năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676) về sau chưa có tục biên. Chúa sai Nguyễn Hoãn, Lê Quí Đôn, Vũ Miên kiêm chức Tổng tài và các Nho thần làm Toản tu như: Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá đều dự làm quốc sử”(1). Điều này cũng được ghi trong mục Văn tịch chí bộ Lịch triều hiến chương loại chí(2)của Phan Huy Chú và bộ Việt sử thông giám cương mục(3) của Quốc sử quán triều Nguyễn. 
Nhưng Đại Việt sử kí tục biên, trong quá trình lưu truyền văn bản đã bị thất lạc, lý do: vào năm 1838, vua Minh Mệnh ban đạo dụ cấm ban hành bộ sử Lê sử bản kỉ tục biênvì đã viết ca ngợi công lao họ Trịnh, đạo dụ viết: “Trong các sách An Nam lịch đại sử kí (Sử kí các đời của An Nam) có nhiều chỗ văn nghĩa sự tích giản lược. Đến giai đoạn từ đời Lê Trung hưng trở về sau, họ Trịnh nắm hết chính quyền, vua Lê chỉ ngồi bị vị, cho nên những chuyện chép trong Bản kỉ tục biên đều là việc tôn họ Trịnh dìm vua Lê. Thậm chí, những việc họ Trịnh bội nghịch với vua Lê cũng đều chép sai lạc để ngợi khen nhau. Tình trạng trái ngược như mũ giầy điên đảo, không lúc nào tệ bằng lúc ấy. Do đó có những người biên soạn sử sách thời bấy giờ đều là người riêng của họ Trịnh, điều mà sách chép không phải là lời nói theo công nghị. Đến nay tuy những ván khắc cũ [của sách Lê sử tục biên] đã bị tán lạc; nhưng những bản sách đã in, do sĩ dân tàng trữ, há lại không còn hay sao? Nếu còn để sách ấy lại, người nọ truyền riêng cho người kia xem thì nó sẽ làm hãm đắm lòng người, không thể không một phen thu sách ấy lại mà tiêu hủy đi, để tính kế tốt nhất cho phong tục thế đạo. Vậy truyền dụ các quan đầu các địa phương, thông sức cho quan lại sĩ dân trong hạt mình cai trị, nếu còn có nhà nào chứa chấp sách Lê sử bản kỉ tục biên, thì bất cứ sách in hay sách viết, đều nộp lên quan ngay, do quan đầu địa phương đệ nạp tại Bộ. Khi sách đã đến Bộ, Bộ sẽ tâu xin trên hủy đi”(4). Như vậy, Lê sử bản kỉ tục biên hay Bản kỉ tục biên chính là Đại Việt sử kí tục biên đã từng được khắc in, chỉ từ sau năm 1838 trở đi mới bị thất lạc, hiện trong các kho Hán Nôm chúng tôi chưa tìm thấy bản khắc in nào.
Theo điều tra của Ngô Thế Long và Nguyễn Kim Hưng, cùng sự đối chiếu trong kho sách Hán Nôm, Đại Việt sử kí tục biên hiện còn 9 bản đều dưới dạng viết tay và có các tên gọi khác nhau, như Đại Việt sử kí tục biên, Việt sử tục biên 越史續編, Lê hoàng triều kỷ 黎皇朝紀, Hậu Lê thời sự kỷ lược hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Sử học(5).
Sau đây chúng tôi xin công bố đoạn trích viết về Hoàng Sa vào năm Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15 (1754) trong Đại Việt sử ký tục biên, bản HV.119 của Viện Sử họcvới tên sách là Hậu Lê thời sự kỷ lược(6).
Phần chữ Hán:簿[.](7)��(8) - (Xem ảnh chụp bản gốc ở cuối bài viết).
Dịch nghĩa:Tám người thuộc đội Hoàng Sa xã An Vĩnh huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi đi thuyền nhỏ vào bãi Hoàng Sa giữa hải đảo tìm lấy hóa vật, bị gió dạt vào cửa sông Thanh Lan huyện Văn Xương phủ Lô Châu (nước Thanh). Quan địa phương đó xét hỏi đúng sự thực rồi đưa trả về nguyên quán. Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế ta(9) sai Cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng hầu(10) viết thư đáp lại nước Thanh. Ngoài biển xã An Vĩnh có nhiều đảo lớn gồm hơn 130 đảo, cách nhau hoặc một ngày đi thuyền, hoặc vài canh giờ. Trên đảo có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng(11) (Hoàng Sa) dài ước hơn 30 dặm, bãi phẳng nước trong. Đảo có vô số tổ yến, ở bãi cát lại có ốc vằn, tục gọi là ốc tai voi, ốc xà cừ, ốc hương và hải trùng, hải sâm, đồi mồi, v.v... Đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ tháng 3 ra đi, mang lương ăn 6 tháng, đi thuyền ra biển 3 ngày 3 đêm mới đến đảo. Ở đấy tha hồ tìm nhặt, được sản vật gì, bao nhiêu, đến kì tháng 8 thuyền về cửa Eo(12), đem đến Phú Xuân nộp. Trong khoảng ấy cũng có người mò được tiền bạc, chì, thiếc, nồi đồng, súng, khí giới, ngà voi, bát bằng đá, v.v..”(13)
Như vậy tư liệu Hán Nôm viết về Hoàng Sa - Trường Sa khẳng định chủ quyền lãnh thổ thuộc Việt Nam cần được bổ sung tác phẩm Đại Việt sử kí tục biên (Hậu Lê thời kỉ lược) một bộ tín sử Việt Nam (giai đoạn 1676-1789) viết nối tiếp Đại Việt Sử kí toàn thư ghi chép lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông.

Chú thích:
(1) Đại Việt sử kí tục biên, Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.397.
(2) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, tập III, Nxb. KHXH, H. 1992, tr.72-73.
(3) Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, tập XIX, Nxb. Sử học, H. 1960, tr.46.
(4) Trần Văn Giáp: Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb. KHXH, H. 2003, tr.148.
(5) Về văn bản Đại Việt sử kí tục biên, chi tiết xin xem Lời giới thiệu do Nguyễn Kim Hưng viết, in trong Đại Việt sử kí tục biên, Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.5-14.
(6) Xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Hữu Tâm, Giám đốc Thư viện Viện Sử học đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi.
(7) Chữ chưa khôi phục được.
(8) 後黎時事紀略, Viện Sử học, HV.119, Phần: Hiển Tông Vĩnh Hoàng đế (Q.3), Mục:Giáp Tuất Cảnh Hưng thứ 15 (1754), tờ 3a.
(9) Chỉ chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sách do các học giả thời Nguyễn sao chép lại, nên viết nhà Lê là Hậu Lê và ghi tên hiệu chúa Nguyễn Phúc Khoát được các Hoàng đế nhà Nguyễn truy phong. Vấn đề văn bản tác phẩm chúng tôi sẽ nghiên cứu và giới thiệu vào dịp khác.
(10) Thức Lượng hầu: tước của Trần Đình Hỷ.
(11) Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ 天南四至hay Thiên hạ bản đồ 天下本圖có ghi chữ Bãi Cát Vàng.
(12) Cửa Eo: tức Cửa Thuận (Thuận An hải khẩu). Tên này được đổi từ năm Gia Long thứ 13 (1814). 
(13) Bản dịch: Đại Việt sử kí tục biên, Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.243-244. Chúng tôi có sửa chữa đôi chỗ.
Tư liệu tham khảo
- Monique Chemillier - Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bản dịch, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 1998.
http://www.google.com.vn / Hoàng Sa Trường Sa. Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa. Tủ sách Hoàng Sa Trường Sa../.
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr.79-82.
*Tác giả Trịnh Khắc Mạnh là PGS.TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Một số thủ đoạn lấn chiếm biên giới nước ta của Trung Quốc

Một số thủ đoạn lấn chiếm biên giới phía Bắc nước ta của “người đồng chí” Trung Quốc


Từ trước tới nay, nhắc tới Trung Quốc, người ta lại nhấn mạnh nào là tình đồng chí, anh em láng giềng… ít ai biết được rằng “người anh em” này đã từng bước “ăn thịt” chúng ta như thế nào, xin trích tư liệu từ blog của những người quan tâm dự án Bô-xít ở Tây Nguyên

1. Từ xâm canh, xâm cư đến chiếm đất
Khu vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một ví dụ điển hình. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc rỗ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam: đường biên giới lịch sử tại đây đi qua một dãy núi cao, chỉ rõ làng Trình Tường và vùng xung quanh là lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung quốc sang quá canh ở Trịnh Tường đều nộp thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trong Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc làm ăn ở Trịnh Tường, bằng cách cung cấp cho họ nhiều tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang – Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến vùng lãnh thổ Việt nam dài 6km, sâu 1,3km thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc, thành lãnh thổ Trung Quốc. Từ đó họ đuổi những người Việt Nam từ nhiều đời nay sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vuwcjnayf, đơn phương sửa lại đường biến giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam… Trình Tường không phải là trường hợp đơn lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự, như ở xã Thanh Loa huyện Cao Lộc (mốc 25,26,27) ở Lạng Sơn, Khảm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tà Lủng, Làn Phù Phìn ở Hà Tuyên…
2. Lợi dung xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới về phía Việt Nam.
Tại khu vực Hữu Nghị quan: .. họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Vĩnh Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3,1km và vào sâu đất Việt Nam 0,5km.
3. Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang Việt Nam.
Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20 tháng 2 năm 1976, phí Trung Quốc đã huy động 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập rthanhf hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.
Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện với Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hàng chục đến hàng trăm mét với công trình nhà cửa, trường học, khu phố..
4. Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc
Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập bản làng mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ năm 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phia Un mà đòi biên giới phải chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt nam hơn 500m. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ có thể làm đường ô tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc họ lấn chiếm là vì khu vực Phia Un có mỏ măng gan.
5. Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.
Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc biên giới đặt đúng với đường biên giới lịch sử, họ cũng tìm cách xuyên tạc đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu vực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41,42,42) ở Lạng Sơn dài trên 9km, sâu vào đất Việt Nam 2,5km, diện tích gần 1.000hecta, khu vực Nà Pảng-Kéo Trình (mốc 29,30,31) ở Cao Bằng, dài 6,45km sâu vào đất Việt Nam 1,3km, diện tích gần 200hecta.
6. Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam
Chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng 32hecta, sâu vào đất VieetjNam trên 1km như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4km, sâu vào đất Việt Nam 2km.
7. Lợi dụng việc vẽ Bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.
Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất của Trung Quốc./ Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực Bản Giốc (mốc 53) thoocj tỉnh Cao Bằng, noqwi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.
8. Dùng lực lượng vũ trang để uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất
Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1967-1968 nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam Trung Quốc sang định cư ở đây. Phía Việt nam đã yêu cầu Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên 36 hộ gồm 152 người, vào vùng này thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sìn Sài Thăng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3km. Mặc dù phía Việt Nam nhiều lần kháng nghị họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại, đầu năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt, chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.