Thứ Năm, 28 tháng 8, 2008

Marie Curie - Nữ bác học đầu tiên nghiên cứu về phóng xạ


Marie Curie là nhà bác học nữ hai lần nhận giải thưởng Nobel. Bà là một trong những người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về phóng xạ, bà đã tìm ra chất Rađi, chất này khi các nguyên tử của nó bị tách rời sẽ tạo ra sự phóng xạ mà thời đó người ta chưa hiểu rõ bản chất. Nhờ những công trình của bà mà nhân loại có được khái niệm về nguyên tử và tính phóng xạ.Cô bé Marie Salome Sklodowska chào đời ngày 7/11/1867 tại thành phố Varsovie (Ba Lan) trong một gia đình trung lưu, cả cha mẹ đều là nhà giáo. Hồi đó Ba Lan bị nước Nga thống trị, nền giáo dục tốt nhất, những vị trí tốt nhất đều giành cho người Nga, người Ba Lan ít có cơ hội học hành. Tuy nhiên vì cha mẹ là những nhà giáo nên các anh chị em nhà Sklodowska được giáo dục nghiêm túc. Năm 1883, Marie tốt nghiệp trung học xuất sắc và được thưởng huy chương vàng của nhà trường. Cô muốn đi học tiếp nhưng lúc ấy ở Ba Lan phụ nữ không được học đại học, gia đình cô lại gặp khó khăn. Marie đành nhận làm gia sư cho một số gia đình giàu có. Những lúc rảnh rỗi cô tự học toán và vật lý. Năm 1891, lúc này kinh tế gia đình đã khá hơn, Marie quyết định ra nước ngoài học. Cô đã đi trên một toa xe lửa hạng ba từ Ba Lan tới tận Pari (Pháp) để theo học chuyên ngành Toán và Vật lý của đại học Sorbonne. Năm đó Marie 24 tuổi. Mới đầu Marie sống ở nhà chị gái là Bronia, khi ấy cô chị đã lấy một thầy thuốc. Rồi cô đến ngụ cư trong một tầng hầm tối tăm ở khu Latinh. Cô ăn uống rất kham khổ và không đủ củi sưởi trong mùa đông. Những khó khăn đó không làm cô nản chí mà càng quyết tâm học tập, cô thường nghiên cứu nhiều giờ liền trong các thư viện. Marie đã được học các giáo sư danh tiếng thời đó như Paul Appell và Gabrie Lippmann. Chỉ hai năm sau cô đã nhận được tấm bằng cử nhân Vật lý một cách xuất sắc và được nhận vào làm việc tại phòng thí nghiệm của Lippmann. Năm sau, 1894, cô nhận tiếp bằng toán học. Từ đó cô chuyên tâm vào nghiên cứu vì lòng say mê khoa học chứ không phải vì lợi ích vật chất. Cũng trong năm 1894, Marie gặp gỡ Pierre Curie, một nhà vật lý người Pháp, lúc đó đang giữ một vị trí quan trọng trong phòng thí nghiệm vật lý của đại học Sorbone. Khi đó Marie 27 tuổi còn Pierre 35 tuổi, họ nhanh chóng yêu nhau vì cả hai có cùng chí hướng là đam mê nghiên cứu vật lý. Ngày 20/7/1895, họ cưới nhau (từ đây bà mang họ tên là Marie Curie). Cũng năm 1895, Pierre nhận được học vị Tiến sỹ khoa học vì những công trình đầu tiên của ông về từ học. Sau ngày cưới, Marie về làm việc cùng phòng thí nghiệm của chồng, bà nghiên cứu những đặc tính từ của các hợp kim và đã viết công trình khoa học đầu tiên trong số rất nhiều công trình của đời mình. Cùng thời với Marie Curie, nhà vật lý người Đức là Wilhelm Rentgen đã phát hiện ra những “tia xuyên” vô hình từ một ống điện, chưa rõ bản chất của nó, ông đặt tên cho nó là tia X. Những tia này có thể xuyên qua da thịt và nhiều chất khác nhưng không xuyên qua được những vật cứng và dày đặc như xương và kim loại dày. Một thời gian ngắn sau đó, tia X và hiệu quả của nó trở nên nổi tiếng trên thế giới. Phát minh ra sự phát xạ này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân, dĩ nhiên Pierre và Marie cũng rất quan tâm đến thành tựu này. Năm 1896, một nhà vật lý khác là Henri Becquerel tìm ra những tia xuyên khác, tia xuyên này phát ra từ một mẩu Urani. Henri để mẩu Urani trong ngăn kéo, đặt trên một tờ giấy ảnh. Vài ngày sau ông thấy tờ giấy ảnh phủ một lớp hơi nước. Marie đã quyết định nghiên cứu sự bức xạ bí hiểm mà Becquerel khám phá để làm đề tài tiến sỹ của mình. Marie đã nghiên cứu trong điều kiện nghèo nàn về vật chất: Phòng thí nghiệm của bà chật chội, ẩm ướt và không có lò sưởi. Với chiếc tĩnh điện kế do chồng và em chồng là Jacques Curie sáng chế, bà tìm kiếm các nguồn xạ không phải của Urani. Bà khám phá được một chất là Thori cũng có đặc tính ấy. Bà cũng nhận thấy rằng dù xử lý Urani và các chất có Urani như thế nào thì lượng bức xạ vẫn y nguyên. Từ đó, Marie nhận định rằng bức xạ không phải do các phản ứng hoá học vì nếu như vậy thì nó sẽ thay đổi khi Urani được thêm vào hay bị tách khỏi các hoá chất khác. Phải chăng nó từ những phân tử nhỏ nhất của chính Urani mà ra. Ý tưởng đó trái ngược với các lý thuyết khoa học thời ấy, nhưng sự đúng đắn của nó đã được chứng minh. Marie và Pierre cũng nghiên cứu tác động của những bức xạ mới tìm thấy, nó làm cho một số chất có hiện tượng huỳnh quang. Chất Urani mà Marie sử dụng chủ yếu là ở dạng quặng Uraninit, hỗn hợp tự nhiên chưa được làm sạch gồm đất đá và một số chất khác. Quặng Chancolit cũng chứa Urani. Năm 1898, những thí nghiệm và tính toán của Marie chỉ ra rằng Uraninit và Chancolit phát bức xạ nhiều hơn mức dự kiến do thành phần Urani chứa đựng trong nó. Vậy thì trong quặng đó phải có chất nào khác tạo ra lượng bức xạ dôi dư. Marie dùng phương pháp hoá học, giã viên quặng, rây, đun sôi làm tan rã để chất lỏng bay hơi, lọc bã cặn, chưng cất và cho nó chịu tác động của một dòng điện.Ở mỗi công đoạn, Marie cùng đồng sự kiểm tra thành phần và độ tinh khiết của chất mới thu được. Bà tách phần phát nhiều tia bức xạ nhất và lại xử lý tiếp. Cuối cùng bà có được một chất mới ở thể thuần khiết, một nguyên tố hoá học mới, bà đặt tên là Pôlôni để tôn vinh quê hương của bà (Pôlôni nghĩa là Ba Lan). Trong bản báo cáo khoa học bà đã dùng từ “phóng xạ” để chỉ những chất như Urani hay Pôlôni phát tia xuyên hay bức xạ. Pôlôni là chất đầu tiên có độ phóng xạ mạnh được tách ra dưới dạng thuần khiết. Sự bức xạ của nó làm cho không khí xung quanh phát quang và bản thân chất Pôlôni sờ vào cũng thấy nóng. Pôlôni không phải là nguyên nhân duy nhất sự phóng xạ của Uraninit. Marie tiếp tục nghiên cứu và làm sạch một chất chứa một nguyên tố mới mà bà gọi là Rađi. Một số chất phóng xạ được ông bà Curie tinh chế có tính phát quang. Năm 1899, Marie chuyên tâm vào một công việc to lớn: tạo được Rađi nguyên chất dưới một dạng có thể chứng minh sự tồn tại của nó. Hàng tấn quặng bã phóng xạ từ Bôhem và châu Phi được gửi đến phòng thí nghiệm ở Pari để đưa vào quá trình làm phân rã bằng hoá học. Giai đoạn cuối cùng rất khó khăn, thường là thất vọng. Thời đó những mối nguy do phóng xạ gây ra chưa được biết đến bao nhiêu, vì thế mà sức khoẻ của Marie bị suy kiệt kéo dài. Triệu chứng bệnh lao xuất hiện sau khi sinh cô con gái Irene, bà luôn cảm thấy mệt mỏi, khó tiêu do bị nhiễm xạ. Tay bà cứng đờ ra, bị thương tổn, nổi đầy mụn lở loét do phải pha trộn, đun nấu chất phóng xạ, nhiều năm sau những sổ tay và ghế ngồi của bà ở phòng thí nghiệm còn nhiễm độ phóng xạ rất cao. Bà đã hoàn thành được đến cùng công việc nhọc nhằn như thế, bà vừa nghiên cứu Rađi vừa tiến hành nghiên cứu khác, cùng với nhà vật lý Henri Becquerel và một nhà khoa học khác là Fritz Giesel bà đã khám phá được những đặc tính của bức xạ vào năm 1899.Mặc dù danh tiếng của ông bà Curie rất lớn nhưng họ vẫn nhận được rất ít kinh phí để nghiên cứu. Để có thêm tiền mua sắm thiết bị, nguyên liệu, Pierre phải nhận một chân phụ đạo ở trường ĐH Bách khoa, còn Marie thì nhận thêm việc giảng dạy vật lý ở ĐH Sư phạm Sèvres. Công cuộc nghiên cứu của họ vẫn có những bước tiến kỳ diệu: Năm 1902, Marie thu được một loại muối Rađi nguyên chất, chỉ bằng 1/10 gam, nhỏ gần như là không thể nhận thấy (cần 7 tấn quặng Uraninit mới có được 1 gam Rađi). Nhưng lượng nhỏ nhoi thu được đó cũng đủ để biết được đặc tính lý hoá của Rađi. Đó là đỉnh cao trong sự nghiệp của bà. Piere và Marie được mời phát biểu tại viện hoàng gia Luân đôn và đã được tặng huy chương tôn vinh Humphrey Davy. Trở về Pari, Marie được nhận bằng tiến sỹ khoa học vì công trình của bà. Nhưng ông bà đã chịu những nỗi bất hạnh khi đứa con họ sinh ra không sống được do bị nhiễm phóng xạ (hồi đó người ta chưa biết những nguy cơ của phóng xạ). Cũng trong năm này, Piere, Marie và Henri Becquerel đã nhận được giải thưởng Nobel về vật lý vì những công trình nghiên cứu về phóng xạ. Thật đau khổ là vợ chồng bà không ai đủ sức khoẻ để đến Thuỵ Điển nhận giải. Năm 1904, Eve, con gái thứ nhì ra đời. Pierre cũng được bổ nhiệm giáo sư ở Sorbonne, ông có một phòng thí nghiệm tốt hơn và Marie trở thành trợ lý chính của ông, năm sau Pierre được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học. Chất Rađi đã được công nhận, người ta biết đến đặc tính của nó phát sáng trong bóng tối và bắt đầu dùng nó để chữa một số bệnh, giá trị của nó lên cao vùn vụt. Dần dần một số nhà máy và bệnh viện được thành lập để sử dụng thứ kim loại quý đó. Một ngày tháng tư năm 1906, Pierre đang đi trên phố ở Pari, chìm đắm trong suy tư, ông không nhìn thấy một cỗ xe ngựa chất nặng đang lao tới, cỗ xe hất ông ngã văng ra và chết ngay tại chỗ. Cái chết của Pierre khiến Marie rất đau khổ và bà bị hẫng hụt một thời gian dài. Bà tìm sự giải thoát tâm hồn bằng tiếp tục công việc. Bà được nhận chức vị của Pierre và trở thành người phụ nữ đầu tiên làm giáo sư ở Sorbonne. Chú tâm vào công việc hơn bao giờ hết, bà tiếp tục làm sạch Rađi và Pôlôni. Năm 1910, bà đã thu được Rađi nguyên chất, một thứ kim loại màu trắng lóng lánh và tìm được điểm nóng chảy của nó là 700 độ C. Cũng trong năm ấy bà công bố công trình: “Chuyên luận về sự phóng xạ” dày 971 trang. Năm sau, 1911, bà được tặng giải Nobel về hoá học vì đã tách được Rađi nguyên chất. Năm 1922, bà được bầu vào Viện hàn lâm y học Pháp. Trong thập niên 1920 - 1930, người ta bắt đầu hiểu rõ hơn những hậu quả độc hại của phóng xạ đối với cơ thể con người. Những nhà bác học cùng làm việc bên cạnh ông bà Curie thuở ban đầu của phát minh đều bị những triệu chứng mà phóng xạ gây ra như: khó chịu đường tiêu hoá, rát bỏng, lở loét, ung thư...Tiên phong trong nghiên cứu về phóng xạ, Marie Curie đã phải chịu đựng bệnh phóng xạ trong thời gian hơn nửa cuộc đời. Năm 1934 bà đã mất sau khi chịu đựng những đau đớn do bệnh tật bởi nhiễm xạ. Rađi do Marie Curie phát minh ngày nay ít được dùng nhưng các công trình về tinh lọc Rađi và về bức xạ đã góp phần quan trọng vào sự hiểu biết rộng hơn về sự phóng xạ và nguyên tử. Những nghiên cứu của bà và nhiều nhà bác học khác đã giúp cho việc nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử và những điều kiện tạo ra sự giải toả năng lượng. Sự phóng xạ cũng cho khả năng phát hiện và chữa một số bệnh. Nhờ liệu pháp tia X người ta có thể diệt một số tế bào ung thư bằng cách “bắn phá” nó bằng bom, tức là phát những tia bức xạ của côban vào các tế bào có bệnh. Marie Curie được mệnh danh là nhà khoa học nữ vĩ đại nhất thế kỷ 20, lòng say mê khoa học và những cống hiến của bà khiến nhân loại phải kính trọng.

Alexandre Yersin – Nhà khoa học, người thầy vĩ đại


Ngày nay người Việt Nam và những người làm công tác khoa học trên thế giới, không mấy ai không biết tên Yersin. Đi qua một số thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt... chúng ta đều thấy những con đường mang tên ông. Tại Bình Dương, một tỉnh nhỏ cũng có con đường lớn và dài xuyên qua trung tâm thị xã Thủ Dầu Một mang cái tên rất đỗi thân thuộc: Đường Bác sĩ Yersin.Sinh ra ở Thụy Sĩ ngày 22/9/1863, cha mẹ là người gốc Pháp, tuổi trẻ của Alexandre Yersin đã trải qua hai trường Đại học Y khoa ở Lausanne (Thụy Sĩ) và Menbourg (Đức) nhưng đều không thành đạt. Năm 23 tuổi ông sang Pháp và xin vào làm kỹ thuật viên tại bệnh viện Hotel Dieu Paris. Tại đó ông đã may mắn gặp được Louis Pasteur và được nhận vào làm việc ở phòng thí nghiệm vi trùng của Pasteur. Vừa làm việc, Yersin vừa nghiên cứu một đề tài khoa học nhỏ để làm luận án tốt nghiệp Đại học Y khoa. Hai năm sau ông đã bảo vệ thành công xuất sắc luận án này và được xếp vào loại công trình khoa học có giá trị thời bấy giờ. Khi đó Yersin tròn 25 tuổi và vừa nhập quốc tịch Pháp.Ngày 01/01/1889, viện Pasteur Paris chính thức thành lập, đây là nơi mà Yersin và giới y học Pháp mơ ước được làm việc. Thế nhưng tháng 9/1890, ông đã rời Pháp đi Viễn Đông với một niềm đam mê mãnh liệt là nghiên cứu những miền đất này. Ông đã đến Việt Nam, và tháng 7/1891 ông đặt chân đến Nha Trang. Tại Việt Nam, ông nhận nhiệm vụ của nhà đương cục Pháp ở Đông Dương đi điều tra vùng rừng núi phía Đông sông Mê Kông tới bờ biển Việt Nam. Từ năm 1892 đến 1894 ông đã thực hiện 3 cuộc thám hiểm trong 13 tháng để tìm hiểu về đất đai, tài nguyên, dân cư, khí hậu... Chính trong thời gian này ông đã tìm ra Đà Lạt trên cao nguyên Lang Bian vào tháng 6/1893 và đề nghị Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer thành lập một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh tại đây. Đề nghị đó đã được chấp nhận và mấy năm sau thành phố Đà Lạt được khởi công xây dựng.Năm 1893, bệnh dịch hạch bùng nổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông. Nạn dịch này lớn chưa từng thấy và đã cướp đi rất nhiều sinh mạng. Tại Hồng Kông lúc đó dân số chỉ có 200.000 người nhưng đã có tới 100.000 người phải bỏ chạy khỏi vùng đất này tỷ lệ tử vong của căn bệnh này lên đến 95%. Yersin đã xin được đi Hồng Kông để nghiên cứu và chỉ 5 ngày sau khi đến nơi, ông đã phát hiện được vi trùng dịch hạch. Sau 49 ngày ở Hồng Kông, ông trở về Việt Nam nghiên cứu và chế tạo thành công vaccin chống dịch hạch để gửi đi các nơi đang có dịch bệnh hoành hành.Sau thành công lớn về chống dịch hạch, Yersin thành lập phòng thí nghiệm và nghiên cứu vi trùng ở Nha Trang. Công việc đang tiến hành thì Toàn quyền Đồng Dương bổ nhiệm ông làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y Hà Nội. Sau hai năm xây dựng và tổ chức, ổn định việc đào tạo cho nhà trường, ông xin được trở lại Nha Trang.Về Nha Trang, ông đã dùng toàn bộ tiền dành dụm, tiền thưởng của Viện Hàn lâm Pháp, kể cả vay mượn, để tổ chức khai hoang vùng Suối Dầu, cách Nha Trang 20km, làm khu chăn nuôi, trồng trọt phục vụ cho công tác nghiên cứu, làm một con đường lên đỉnh núi Hòn Bà cách đó 30km để khai hoang trồng thử nghiệm cây quinquina lấy vỏ chiết xuất ra chất quinine điều trị bệnh sốt rét. Tại đây, ông còn đem giống cây cao su về trồng thí nghiệm và sau này thành công, phát triển ra nhiều tỉnh khác trong toàn quốc. Cây cao su và cây quinquina được ông lấy giống từ Indonesia về vì trước đó ở Việt Nam chưa có các giống cây này. Việc trồng quinquina trên đỉnh đồi Hòn Bà không thành công do không hợp thổ nhưỡng. Yersin không nản chí đã chuyển lên trồng ở cao nguyên Dran và Lang Bian. Tại đây ông đã thành công ngoài mong muốn: năm 1926 ông thu hoạch lứa quinquina đầu tiên và chiết xuất được quinine với hàm lượng cao. Sau đó ông đã phát triển trồng ở Đà Lạt được 671 ha quinquina, hàng năm thu được hàng chục tấn vỏ. Lúc bấy giờ trên thế giới bệnh sốt rét vẫn đang hoành hành nên quinina rất quý.Hơn 50 năm ở Nha Trang, Yersin đã nghiên cứu thành công 50 công trình khoa học, trong đó có 40 đề tài về y học và 10 đề tài về nông nghiệp. Ông đã từng giữ các chức vụ: Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, Chủ tịch danh dự Hội đồng khoa học Viện Pasteur Paris, Viện trưởng Viện Pasteur Đông Dương. Bên cạnh y học và nông nghiệp, ông còn say mê nghiên cứu thiên văn, sử dụng máy quay phim, máy chụp ảnh, vô tuyến điện và ham mê văn học, dịch thuật...Là một nhà bác học vĩ đại, nhưng Yersin sống rất giản dị và giàu lòng nhân ái. Hơn 50 năm ở Nha Trang, ông sống trong một căn nhà đơn sơ ở xóm Cồn giữa những người dân chài lưới và đem những hiểu biết của mình nhiệt tình giúp đỡ họ.Yersin đã dành hơn nửa thế kỷ cuộc đời mình ở Việt Nam. Ông mất năm 1943 và theo nguyện vọng của ông, những người dân ở Nha Trang cùng các nhà chức trách người Pháp đã đưa ông lên an táng tại Suối Dầu. Trên nấm mộ của ông có khắc dòng chữ giản dị: Alexandre Yersin 1863-1943. Ở đó, ngày nay những người dân Nha Trang và du khách vẫn thường đến tháp hương và đặt hoa trên mộ ông

(tai liệu từ thegioiebook.com)

Hipocrates, ông tổ nghề y


Một ngày vào năm 460 trước Công nguyên, có một sinh linh nhỏ bé cất tiếng khóc chào đời, trong nhà một thầy thuốc ở đảo Cos, thuộc Hy Lạp. Cha mẹ cậu bé mừng lắm, muốn con sau này nối nghề của mình, nên đặt tên cho cậu bé là Hipocrates. Hipocrates có nghĩa là “thần y”, có thể chữa bách bệnh.Từ nhỏ, như đã hiểu được nỗi mong mỏi của cha mẹ, Hipocrates rất thích quẩn quanh cha mẹ khi họ chẩn trị bệnh cho những người bệnh. Thứ đồ chơi cậu bé Hipocrates thích nhất là chiếc túi thuốc xinh xinh cha tặng cho, trong đó có ống nghe, những chai lọ đựng thuốc... Cậu thường biến cha mẹ thành “người bệnh” để nghe nghe, khám khám, cho thuốc..., tựa như một thầy thuốc tí hon vậy.Lớn lên hơn một chút, Hipocrates đã theo cha đi chẩn bệnh trong khắp thành Athens. Hipocrates rất ham học hỏi. Cậu chăm chú nghe và quan sát cha lúc chẩn bệnh, trên đường trở về nhà lại hỏi han cha về bệnh tình của người bệnh và vì sao cha dùng các thứ thuốc ấy đễ chữa trị. Cậu vui lắm mỗi lần thấy người bệnh khỏe lại nhờ chẩn trị của cha mình và thầm hứa sẽ suốt đời theo đuổi nghề y để giải thoát nỗi thống khổ bởi bệnh tật cho con người.Ở Hy Lạp thời đó, y thuật cũng đã có khá sớm, nhưng thời đó vẫn bị cầm cố trong sự mê tín của tôn giáo và pháp thuật phù thủy. Mọi người còn cho rằng bệnh tật là sự quở trách của thần linh, cho nên bị bệnh thì phải mau chóng kêu cầu thần linh khoan dung, thu lại sự quở trách ấy(!). Những người được mệnh danh là “thầy thuốc” lúc đó đa phần là bọn phù thủy, tăng lữ, đạo sĩ, chữa bệnh bằng cách niệm chú, cho uống nước thánh, cầu khẩn... thì làm sao mà người bệnh thoát chết!Hipocrates học được nhiều từ cách chữa trị, chẩn trị bệnh của cha, lại thấy được sự ngu dốt của bọn phù thủy, tăng lữ trong chữa bệnh, thế là lên đường ngao du tới khắp nơi suốt dải biển Đen, sang tận Bắc Phi để tìm học ở các thầy thuốc nổi tiếng, làm phong phú tri thức y học của mình. Ông đã “tầm sư học y” như vậy suốt 10 năm, từ năm 445 trước Công nguyên tới năm 435 trước Công nguyên, sau đó vừa chữa bệnh cho người bệnh, vừa nghiên cứu, tìm tòi về y học. Ông rất chú ý nghiên cứu những đặc trưng ở cơ thể người, nghiền ngẫm phát hiện những nguyên nhân gây bệnh, đề ra được những tư tưởng rất mới mẻ trong phòng chống bệnh tật cho con người.Hipocrates đã sớm tìm ra căn nguyên bệnh động kinh là do sự hỗn loạn tạm thời chức năng của đại não; tên gọi loại bệnh này là do ông đặt ra, vẫn được sử dụng mãi tới ngày nay. Ông cũng là người tìm ra cách nắn chỉnh căng kéo để chữa gãy xương, mà sau này được gọi là “phương pháp nắn chỉnh Hipocrates”.Hipocrates lần đầu tiên nêu ra tư tưởng: Những nhân tố bên ngoài như chất lượng nước, sự thay đổi mùa vụ, phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán sống... có ảnh hưởng tới sức khỏe con người, không thể xem nhẹ. Người thầy thuốc, ngoài việc tận tình với chức trách chẩn trị bệnh, còn cần phối hợp xem xét môi trường sống của người bệnh. Ông cũng là người đầu tiên nêu ra khái niệm “dự phòng”: Thầy thuốc không chỉ chẩn trị bệnh cho người bệnh đang mắc phải, mà còn cần khám xét kỹ để đưa ra những dự đoán tin cậy được về xu thế phát triển bệnh tật và tình trạng phục hồi sức khỏe của người bệnh. Ông còn cho rằng, chức trách của thầy thuốc là chữa trị cho người bệnh, song còn cần quan tâm tới cả những người mạnh khỏe để họ không bị mắc bệnh.Về phương pháp điều trị, Hipocrates cho rằng, cùng một loại bệnh thì ở mỗi người bệnh, do có khí chất khác nhau mà thể hiện ra những chứng trạng cũng khác nhau, và phải có cách điều trị khác nhau. Ông nhấn mạnh chủ trương dùng các cách để kích thích khả năng hồi phục tự nhiên của cơ thể người trong chiến thắng bệnh tật. Ông đề xuất thuyết thể dịch, cho rằng “cơ thể có 4 loại thể dịch là dịch gan màu đen, dịch gan màu vàng, dịch máu và dịch nhớt”, khi 4 loại thể dịch đó điều hòa thì cơ thể khỏe mạnh, còn ngược lại thì sẽ sinh bệnh.Qua nghiên cứu lý luận và tích lũy thực tiễn trong điều trị cho người bệnh, Hipocrates có được kinh nghiệm phong phú trong y học. Ông phát hiện, con người ở khoảng tuổi 40 đến 60 là dễ bị đột quỵ nhất: khi phát sinh vàng da (hoàng đảm) và gan cứng thì tất nguy; người bệnh trước khi chết thì móng tay xám đen lại, môi tím, tai lạnh và co lại, mắt lờ đờ... Miêu tả diện mạo người bệnh sắp chết của ông, được người hậu thế gọi là “vẻ mặt Hipocrates”.Những phát hiện của Hipocrates trong khi loài người chưa có khoa học giải phẫu, chưa có kính hiển vi, chưa có những ngành hóa học, vi sinh vật... cho thấy sức khám phá, tìm tòi vô cùng nhạy bén, tài tình của ông. Những phát hiện và ứng dụng những phát hiện ấy trong chữa trị bệnh của ông đã giúp mọi người không còn quá sợ hãi với bệnh tật, khiến y học từng bước thoát li khỏi sự ràng buộc của tôn giáo mê muội, khiến y học tách ra khỏi triết học, trở thành một môn khoa học độc lập. Bởi thế, giới y học thế giới tôn vinh ông là “ông tổ của nghề y”.Hipocrates còn là một mẫu mực sáng chói về y đức. Trước thực tế trong xã hội thời đó có không ít những kẻ mang danh thầy thuốc tìm mọi cách trục lợi, bất chấp hiểm nguy của người bệnh, ông đã soạn thảo ra quy phạm về đạo đức người thầy thuốc phải tuân thủ, mà sau đó trở thành văn bản mang tên “Lời thề Hipocrates” nổi tiếng, khôgn chỉ là quy tắc cho các thầy thuốc ở các nước phương Tây, đồng thời còn là cơ sở của quy tắc đạo đức y vụ quốc tế do Hiệp hội y học thế giới chế định ra.Chính Hipocrates là người thực hiện suốt đời “Lời thề Hipocrates” đó, chỉ xin nêu vài việc: Vào năm 431 trước Công nguyên, toàn thành Athens bị ngập trong một nạn dịch. Người trúng dịch thoạt đầu bị sốt cao, mắt đỏ ngầu, rồi họng xám đen lại, miệng rất hôi, tai ù, tâm thần thảng thốt, và thường chỉ trong vòng 8 ngày là chết! Số người bị chết dịch rất nhiều, gây chấn động toàn thành. Dân chúng lũ lượt bỏ Athens ra đi để mong thoát nhiễm dịch... Khi đó, Hipocrates làm ngự y cho một quốc vương ở phía Bắc Hy Lạp. Sau khi biết tin về nạn dịch, ông đã xin từ chức ngự y, tức tốc trở về Athens để vừa chữa trị cho người bệnh, vừa tìm ra căn nguyên và cách phòng dịch, chẳng quản ngại là chính mình cũng có thể bị nhiễm dịch. Cuối cùng thì ông phát hiện ra một gia đình thợ rèn không ai bị nhiễm dịch, từ đó hiểu ra là lửa có thể là cách đề phòng nạn dịch này, bèn kiến nghị cho đốt những đống lửa khắp nơi trong thành Athens để dập nạn dịch. Sau thành công này của ông, mọi người bàn tán rằng trong ông có “sức mạnh của thần linh” khiến ông mới có thể cứu được bao người chỉ còn sống ngắc ngoải, thì ông đáp rằng:- Tôi không phải là thần, cũng chẳng có thần lực gì đâu! Tôi chỉ tận tụy làm chức trách của một hầy thuốc. Yêu cầu các thầy thuốc tuân theo quy phạm y đức thì tôi phải đầu tiên thực hiện – lương tâm và chức trách phải quyện làm một ở người thầy thuốc.Hipocrates từ khi lập chí theo nghề y, đã suốt đời sống một cuộc sống tận tụy, vất vả vì người bệnh, vì y học. Ông không có lấy một nhà ở cố định, mà đâu cần là ông tới và nơi đó là nhà của ông. Sau khi cha mẹ qua đời, ông không có lấy một người họ hàng, thân thuộc, nhưng ông xem mỗi người bệnh đều là người thân của ông.Bao nhiêu năm bươn trải, bôn ba vì nghề, làm nghề, trong sự chống đối của những thế lực tôn giáo mù quáng thời đó (chúng gọi ông là “kẻ phản nghịch đáng sợ”, tìm cách chia rẽ bằng được ông với người thiếu nữ mà ông vừa đính hôn...). Ông gầy guộc, khắc khổ, trong người chồng chất bao bệnh tật. Ông qua đời vì kiệt sức, sau khi đã thức suốt hai đêm ròng để cứu sống một sản phụ, khi vừa tròn 63 tuổi (mùa đông năm 397 trước Công nguyên).Cả dân thành Athens bàng hoàng, đau xót trước cái chết đột ngột của người thầy thuốc yêu quí của họ: Hipocrates. Ngày đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng là một ngày đông rất lạnh giá, song hàng ngũ những người đưa tang cứ dài, dài mãi với bao dòng nước mắt tiếc thương và biết ơn ông... Người đời sẽ mãi nhớ câu danh ngôn ông thường nói lúc sinh thời: “Đời người ngắn ngủi, còn khoa học mới trường tồn”.

(tài liệu từ thegioiebook.com)

Francis Crick - Nhà khoa học khám phá cấu trúc ADN


Nhà khoa học giành giải Nobel Francis Crick, người đồng phát hiện cấu trúc xoắn kép của ADN vào năm 1953 và mở đường cho mọi thứ từ cây trồng chuyển đổi gien và dược phẩm cho tới chẩn đoán bệnh dịch truyền, đã qua đời ở tuổi 88.Francis Harry Compton Crick sinh tại Northampton, Anh, vào năm 1916. Bố ông là chủ một nhà máy giày và người mẹ đã mua một cuốn từ điển thiếu nhi nhằm giúp trả lời nhiều câu hỏi khoa học của cậu con trai. Ông nghiên cứu vật lý tại ĐH London rồi chế tạo thuỷ lôi cho chính phủ Anh trong suốt Chiến tranh Thế giới lần II. Sau chiến tranh, Crick bắt đầu quan tâm tới sự phân chia giữa cuộc sống và cái chết. Ông quyết định tự học sinh vật và hoá học. Một trong những cuốn sách của Crick là ''Cuộc sống: Nguồn gốc và bản chất'', cho rằng sự sống trên Trái đất bắt đầu khi các vi sinh vật được thả từ một phi thuyền của một hành tinh tiên tiến hơn. Trong một cuốn sách khác, Crick cho rằng các giấc mơ tồn tại để làm cho não bộ tự dọn dẹp để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo. Crick thừa nhận một số tác phẩm của ông mang tính suy đoán. Tuy nhiên, ông nói: ''Người luôn luôn đúng không làm được gì nhiều''. Bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của Crick bắt đầu vào năm 1951 khi ông kết bạn với James Watson. Họ nhất trí rằng ADN là hợp chất mang thông tin di truyền chứ không phải protein như nhiều người nghĩ và bắt đầu nghiên cứu nó. Năm 1953, họ tuyên bố ADN có hình chiếc thang xoắn với các nucleotid cặp đôi A, C, T và GNăm Crick 36 tuổi và đang làm việc tại Phòng thí nghiệm Cavendish (ĐH Cambridge), ông cùng James Watson người Mỹ khám phá ra phân tử ADN giống một chiếc thang xoắn. Sau phát hiện này, Crick tới một quán rượu ở Cambridge và tuyên bố ông cùng Watson đã ''tìm ra bí mật của sự sống''. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chỉ có một vài người nghĩ khám phá trên là thú vị và phải mất nhiều năm sau, phát hiện mang tính tiên phong này mới được công nhận. Nhiều thập kỷ sau, tác động của khám phá này hiện diện ở khắp nơi. Nó đã đặt nền móng cho ngành công nghệ sinh học, giúp các chuyên gia tạo những giống cà chua to hơn, bác sĩ sử dụng liệu pháp gien để trị bệnh và cảnh sát phá án nhờ bằng chứng ADN. Công nghệ sinh học là một ngành có doanh thu 30 tỷ USD/năm, sản xuất khoảng 160 loại thuốc và vắc-xin để điều trị đủ thứ bệnh từ ung thư vú cho tới tiểu đường. Bảy triệu nông dân tại 18 quốc gia trồng cây biến đổi gien vào năm ngoái, giảm sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật. Nhà khoa học Paul Berg thuộc ĐH Standford, người giành giải Nobel hoá học năm 1980 do đi tiên phong trong lĩnh vực chuyển đổi gien, nhận xét: ''Thật khó để bày tỏ hết lòng kính trọng của chúng ta đối với Crick về những cống hiến của ông". Ngài May, chủ tịch Hiệp hội các nhà khoa học Anh, nói: ''Đóng góp của Crick góp phần mở ra một thời kỳ hoàng kim của sinh học phân tử''. Cả Crick và Watson đã được trao giải Nobel y học năm 1962. Cuốn sách ''Chuỗi xoắn kép'' Francis Harry Compton Crick sinh tại Northampton, Anh, vào năm 1916. Bố ông là chủ một nhà máy giày và người mẹ đã mua một cuốn từ điển thiếu nhi nhằm giúp trả lời nhiều câu hỏi khoa học của cậu con trai. Ông nghiên cứu vật lý tại ĐH London rồi chế tạo thuỷ lôi cho chính phủ Anh trong suốt Chiến tranh Thế giới lần II. Sau chiến tranh, Crick bắt đầu quan tâm tới sự phân chia giữa cuộc sống và cái chết. Ông quyết định tự học sinh vật và hoá học. Một trong những cuốn sách của Crick là ''Cuộc sống: Nguồn gốc và bản chất'', cho rằng sự sống trên Trái đất bắt đầu khi các vi sinh vật được thả từ một phi thuyền của một hành tinh tiên tiến hơn. Trong một cuốn sách khác, Crick cho rằng các giấc mơ tồn tại để làm cho não bộ tự dọn dẹp để thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo. Crick thừa nhận một số tác phẩm của ông mang tính suy đoán. Tuy nhiên, ông nói: ''Người luôn luôn đúng không làm được gì nhiều''. Bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của Crick bắt đầu vào năm 1951 khi ông kết bạn với James Watson. Họ nhất trí rằng ADN là hợp chất mang thông tin di truyền chứ không phải protein như nhiều người nghĩ và bắt đầu nghiên cứu nó. Năm 1953, họ tuyên bố ADN có hình chiếc thang xoắn với các nucleotid cặp đôi A, C, T và G. bán chạy nhất năm 1968 của Watson nói về cách ông và Crick sử dụng các mẩu dây, hạt nhuộm màu, tấm kim loại và bìa các-tông để xây dựng mô hình ba chiều của phân tử ADN. Axít Deoxyribonucleic được tạo nên từ bốn khối kiến tạo hoá chất hay ''base''. Mỗi ''bậc'' trong thang xoắn được tạo nên bởi hai base và nhiều base kết hợp cũng như trật tự sắp xếp trong ''bậc'' giải thích thông tin chứa trong các gien. Dựa trên công trình nghiên cứu của họ và các chuyên gia khác, giới khoa học hiện có thể biến đổi gien để loại bỏ các tính trạng gây bệnh cũng như đưa vào tính trạng mong muốn. Khám phá của Crick và Watson làm dấy lên nhiều tranh cãi về đạo đức song Crick nói rằng vào những năm 1950 chẳng có cách gì để tiên đoán sự phát triển của ADN hiện đại. Ông nói: ''Hãy nghĩ về tác động của vô tuyến trên toàn thế giới đối với

(tài liệu từ thegioisbook.com)

Blaise Pascal - thần đồng Toán học


Blaise Pascal sinh tại Clermont Ferrand, miền Auvergne nước Pháp, ngày 19 tháng 6 năm 1623. Cha của Pascal, ông Etienne, trước kia là một luật gia tại thành phố Paris và vào lúc Pascal chào đời, ông là chánh án tòa Hộ tại Clermont. Khi Pascal lên 3 tuổi, bà mẹ Antoinnette Bégan từ trần, để lại cho chồng 3 người con là Gilberte, Blaise và Jacqueline lúc đó đều còn quá nhỏ.Ngay từ khi mới tập nói, Pascal đã tỏ ra là một đứa trẻ có năng khiếu khác thường. Lớn lên, Pascal thường hỏi người lớn những câu hỏi hắc búa và cậu cũng trả lời được những câu hỏi thật khó giải đáp. Những điều này làm cho ông Etienne tin tưởng rằng con của ông là một thiên tài, vì vậy ông quyết định lấy cách giáo dục con. Nguyên tắc của ông là luôn luôn khiến cho đứa trẻ làm các việc khó khăn hơn, tiến bộ hơn.Vào năm 1631, ông Etienne nhường chức vụ của mình cho người khác rồi dọn nhà lên thành phố Paris để chăm sóc sự học vấn của con. Ông tự đảm trách việc giáo huấn và vì vậy, Pascal không có thầy giáo nào khác ngoài người cha thân yêu tài ba. Cậu được dạy cách quan sát, suy tưởng và thường học được những kiến thức qua các cuộc đàm luận với cha. Khởi đầu, ông Etienne quyết định dạy con tiếng La Tinh và Hy Lạp cho đến năm 12 tuổi, tuy nhiên trong các thời giờ nhàn rỗi, ông Etienne cũng kể cho con trai nghe các câu chuyện về Khoa Học nhưng những điều này không bao giờ làm cho Pascal thỏa mãn, cậu luôn luôn khao khát những lý lẽ cuối cùng của sự vật.Vì muốn con chuyên tâm về tiếng La Tinh và Hy Lạp là hai ngôn ngữ rất khó học, nên ông Etienne đã cất dấu tất cả những sách về Khoa Học và Toán Học. Nhưng rồi một hôm, khi bước vào phòng, ông thấy con trai đang loay hoay dùng phấn chứng minh trên nền nhà định luật thứ nhất trong 32 định luật của Euclide. Sau khi nghe con thuật lại cách chứng minh, ông Etienne đã phải bỏ nhà, chạy sang nhà ông hàng xóm Le Pailleur để "khóc lên vì sung sướng".Xưa nay, ông Etienne chưa từng dạy cho con học Toán bao giờ, vả lại định luật của Euclide đó là một bài toán rất khó đối với người lớn, không phải dành cho trẻ em 12 tuổi. Pascal đã chứng minh được rằng tổng số các góc trong một tam giác bằng hai góc vuông, đúng như Euclide đã từng phát biểu. Cũng vì chưa từng học Hình Học, Pascal đã gọi đường tròn là "cái tròn" (un rond), đường thẳng là "cái thước kẻ" (une barre). Từ đây, Pascal mới được cha cho phép đọc các cuốn khái luận của Euclide. Do trí thông minh sẵn có, Pascal đọc tới đâu, hiểu tới đó mà không cần một ai giảng giải. Cậu còn giải được nhiều bài toán khó. Sự tự tìm hiểu do ý thích đã khiến Pascal chẳng bao lâu trở thành một nhà toán học có hạng.Thời bấy giờ, ông Etienne thường gặp gỡ nhiều nhân vật danh tiếng về Khoa Học nên Pascal cũng được tham dự vào các buổi hội thảo, cậu được làm quen với Cha Mersenne là một nhà bác học thời đó, cũng như với những nhà khoa học danh tiếng khác, chẳng hạn như Desargues, Fermat, Roberval. Tại các buổi họp này, Pascal đã góp ý kiến về các tư tưởng, các lý luận, các lời phê phán những tác phẩm của các nhà bác học đương thời. Cậu cũng trình bày những điều do mình khám phá.Theo phương pháp Hình Học của Desargues, Pascal đã hoàn thành cuốn "Khảo Sát về Thiết Diện Côníc" (Traité des sections coniques, 1640) khi chưa tới 16 tuổi. Tác phẩm này bao gồm các công trình của Apollonius, nhưng đã được Pascal tự tìm ra và lại chứng minh bằng một phương pháp luận lý vừa đơn giản hơn, vừa tổng quát hơn. Tác phẩm của Pascal đã khiến rất nhiều nhà toán học tài ba đương thời phải khâm phục, kể cả Cha Mersenne và Descartes, và ai cũng đồng ý rằng cuốn sách đó xứng đáng là công trình của một bậc thầy chứ không phải là của một thiếu niên chưa đủ 16 tuổi. Nhiều người đã thúc dục Pascal đưa in tác phẩm nhưng do lòng khiêm tốn, cậu đã từ chối vì vậy ngày ngay người ta chỉ còn lưu giữ được hai cuốn sách đầu tay của nhà thiên tài toán học Pascal.Năm 1638, khi chính phủ Pháp ra lệnh giảm bớt lợi tức của Tòa Đô Chính Paris, một nhóm người đã đứng lên phản đối trong đó có người cha của Pascal. Vì vậy ông Etienne bị Thủ Tướng Richelieu cho người theo dõi và phải trốn về miền Auvergne. Lúc bấy giờ, Pascal 15 tuổi và cô em gái Jacqueline 13. Giống như anh trai, Jacqueline cũng nổi tiếng là một thần đồng về thơ văn. Khi lên 11 tuổi, Jacqueline đã sáng tác được một kịch thơ 5 hồi và tác phẩm thơ này đã được giới văn nghệ Paris ưa chuộng. Rất nhiều người và ngay cả Thi Hào Corneille đều ưa thích đọc thơ của Jacqueline.Nhờ tài năng về Thơ Phú, Jacqueline được phép đóng kịch trước Hồng Y Giáo Chủ Richelieu. Vị Thủ Tướng này đã không tiếc lời khen ngợi cô bé và hỏi thăm về gia cảnh. Nhân lúc này, Jacqueline liền ngâm một bài thơ xin ân xá cho cha và Thủ Tướng đã nhận lời. Ông Etienne nhờ vậy được phép trở lại Paris và lại được cử giữ chức vụ Giám Đốc Thuế Vụ miền Rouen. Nhưng trách nhiệm này làm ông Etienne mệt mỏi vì sổ sách kế toán quá nhiều. Để giúp đỡ cha, Pascal đã sáng chế ra một chiếc máy tính mà nguyên tắc của nó còn được áp dụng cho các loại máy tính tối tân ngày nay. Phát minh này đã làm dang tiếng của Pascal vang lừng.Vào các năm trước, gia đình Pascal tuy ngoan đạo nhưng tôn giáo chưa được coi là quan trọng cho tới năm 1646, dòng tu khổ hạnh (Jansenism) của Cơ Đốc Giáo đã ảnh hưởng tới vùng Pascal cư ngụ. Đây là nhóm tôn giáo chủ trương do ông Cornelis Jansen, một giáo sư thần học gốc Hòa Lan, sống tại Louvain. Các niềm tin của giáo phái này khác hẳn với các lời rao giảng của các giáo sĩ Dòng Tên (the Jesuites). Ông Etienne Pascal, do không ưa thích tôn giáo, nên đã mang gia đình dọn lên thành phố Paris. Tới khi ông Etienne qua đời vào năm 1651, cô em gái Jacqueline của Pascal liền vào nhà tu tại Port Royal. Do ảnh hưởng này, Pascal đã để tâm tới tôn giáo cũng như tới các vấn đề thần học.Cũng vào năm biết tới dòng tu Khổ Hạnh, Pascal đã thực hiện lại các thí nghiệm của Torricelli và phổ biến các điều khám phá của mình trong tác phẩm "Các thí nghiệm mới liên quan tới khoảng chân không" (Nouvelles expériences touchant le vide, 1647). Pascal đã dựa vào thí nghiệm rồi dùng lý luận, đánh đổ các quan niệm cổ xưa của Aristotle về chân không và ông cũng đưa ra những khám phá mới về áp suất không khí. Pascal đã tìm thấy kết luận rằng càng lên cao, áp suất của không khí càng giảm đi. Để kiểm chứng điều này, Pascal đã nhờ người anh rể là Florin Perier lên ngọn núi Puy-de-Dome thực hiện nhiều thí nghiệm cần thiết. Các kết quả của Perier đã xác nhận lời tiên đoán của Pascal. Do khám phá này của Pascal, các nhà khoa học đã chế tạo được các phong vũ biểu và các cao độ kế.Trong khi nghiên cứu các thí nghiệm của Torricelli, Pascal còn tìm cách tổng quát hóa những ý niệm về chất lỏng. Ông đã thiết lập nhiều định luật về áp suất của chất lỏng để rồi phổ biến qua tác phẩm :"Khảo sát sự cân bằng chất lỏng" (Traité de l 'équilibre des liqueurs). Cuốn sách này được hoàn thành vào năm 1651 nhưng mãi tới năm 1663 mới được xuất bản và căn cứ vào đó, nhiều nhà khoa học đã coi Pascal là một trong những người sáng lập ra môn Thủy Động Học (Hydrodynamics).Sau khi người cha thân yêu qua đời, Pascal không chuyên tâm nhiều vào việc khảo cứu khoa học. Ông thường giao du với nhiều người, nhất là Hầu Tước trẻ tuổi De Roannez và Hiệp Sĩ De Mere. Chính trong thời kỳ này, ông đã chuyên đọc về Epictète và Montaigne. Do sự đi lại với De Mere, Pascal đã lưu tâm tới lý thuyết toán học của cách đánh bài. Ông bắt đầu nghiên cứu phép tính Sác Xuất (Probability) rồi vào năm 1654, đã phổ biến các kết quả qua các bức thư viết cho Fermat và qua cuốn "Khảo Sát về Tam Giác Số Học" (Traité du triangle arithmétique).Cũng vào năm 1654, Pascal tới Port Royal thăm cô em gái Jacqueline đang sống trong tu viện. Cuộc đi thăm này khiến cho Pascal cảm thấy "ghê tởm cực độ các sự giả dối của đời người". Sự bất toại nguyện càng tăng thêm cho tới khi "đêm lửa" xẩy đến, làm thay đổi hẳn cuộc sống cũ của Pascal. Chính vào đêm 23 tháng 11 năm 1654 đó, trong khi đang khảo cứu Toán Học, Pascal cảm thấy như được đối thoại cùng Thượng Đế trong hai tiếng đồng hồ. Pascal thấy mình đã nhận lãnh một chức vụ thiêng liêng, rồi vì quá xúc động, ông nguyện hiến cả đời mình cho Thượng Đế và quyết tâm làm tỏ đức tin nơi Đấng Chí Tôn.Vào năm 1655, Antoine Arnauld, nhà thần học chính thức của Port Royal bị các nhà thần học Sorbone kết án, nhất là về lối tu khổ hạnh (Jansenism) đối với Chúa Cứu Thế. Có lẽ do chính Arnauld khuyến dụ, Pascal đã viết ra các bức thư Provinciales. Lối hành văn cũng như cách tranh luận của Pascal qua tác phẩm này đã quyến rũ được dân chúng Paris, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng Giêng năm 1656 tới tháng 4 năm 1657. Khi sống tại Port Royal, Pascal được mời viết cho nhà trường các bài giảng về Hình Học, có lẽ vì lý do này, Pascal đã viết nên cuốn "Phương Pháp chứng minh Hình Học" (On Geometrial Demonstrations).Thời còn thơ ấu, thể chất của Pascal rất mỏng manh, nên khi lớn lên, tình trạng sức khỏe của ông cũng không được khá. Vào năm 1658, Pascal lại bị chứng đau răng hành hạ và vì muốn tìm quên nỗi đau nhức, Pascal quay ra làm Toán. Ông nghiên cứu hình học Cycloide, là thứ hình học đang được Roberval và các nhà toán học đương thời khảo sát. Pascal đã tìm ra được nhiều tính chất quan trọng nhưng vì muốn chứng tỏ các điều khám phá của mình có thể giải đáp được nhiều bài toán hắc búa, Pascal đề nghị một cuộc thách đố vói các nhà toán học. Nhiều người đã nhận lời trong đó có Wallis và Laouère, nhưng rồi chỉ có Pascal cho ra các kết quả hoàn toàn.Càng về cuối đời, Pascal càng sống khổ hạnh. Sau khi đứa cháu của ông được cứu khỏi tại Port Royal và được mọi người coi là một sự huyền diệu, Pascal chuyên tâm đọc sách và kiếm tài liệu để viết nên cuốn sách "Biện hộ cho Thiên Chúa Giáo" (Apology for the Christian Religion) mà sau này, tác phẩm đó được phổ biến sau khi ông qua đời dưới tên là "Tư Tưởng" (Pensées).Tháng 6 năm 1662, Pascal đem nốt căn nhà ở tặng cho một gia đình nghèo đang mắc bệnh đậu mùa. Ông dọn tới ở nhờ người chị gái Gilberte. Tại nơi này, Pascal bị ốm nặng và cơn bệnh còn hành hạ ông trong hai tháng. Pascal qua đời vào ngày 19 tháng 8 năm đó, hưởng thọ 39 tuổi.Năm 1962, cả nước Pháp đã làm lễ kỷ niệm 300 năm ngày húy kỵ của Blaise Pascal, nhà bác học kiêm triết gia kiêm văn sĩ. Để ghi nhớ bậc Vĩ Nhân Khoa Học này, người ta đã phát hành tem thư, tổ chức các buổi thuyết trình về Triết Học, Toán Học và Văn Chương. Nhiều phòng triển lãm đã trưng bày các tác phẩm của Pascal cùng chiếc máy tính, phát minh lừng danh của ông. Qua các bài diễn văn, các Viện Sĩ Louis de Broglie, Francois Mauriac. đã ca ngợi Blaise Pascal là một thiên tài của Nhân Loại, đã mang cả cuộc đời phụng sự cho Khoa Học và Triết Học

(tai liệu từ thegioiebook.com)