Thứ Năm, 28 tháng 8, 2008

louis pasteur - người tìm ra văcxin phòng dại


Lần đầu tiên thử nghiệm văcxin dại trên người, Louis Pasteur rất lo lắng. Ông viết thư tâm sự với con trai: "Con thử tưởng tượng xem trái tim đau khổ của bố sẽ bị vò nát, cấu xé đến chừng nào nếu như phải chứng kiến một nhân mạng mất đi vì liều văcxin của bố".Louis Pasteur sinh năm 1822 tại vùng Dole (Jura, nước Pháp). Bố ông sau khi giải ngũ trở về chỉ làm nghề thuộc da và rất nghèo. Cụ mong đợi con trai trở thành một thầy giáo vì nghĩ rằng làm thầy giáo thì nhàn hạ hơn nghề thuộc da của ông.Thuở nhỏ, Pasteur rất mê học vẽ và ai cũng tưởng sau này cậu sẽ trở thành một họa sĩ. Năm 19 tuổi, Pasteur đỗ tú tài văn chương và trở thành người phụ giảng ở trường trung học này; một năm sau nhận thêm bằng tú tài toán tại Dijon. Sau đó, ông thi đỗ vào ENS - trường cao đẳng sư phạm danh tiếng ở Paris và tốt nghiệp cử nhân khoa học, được cử làm giáo viên của Trường trung học Tournon ở Ardèche. Nhưng với lòng ham mê nghiên cứu khoa học, Pasteur xin ở lại Trường ENS để làm kỹ thuật viên hóa học. Ông được làm việc tại phòng thí nghiệm của viện sĩ Balard và có dịp gặp giáo sư Laurant ở đó. Vị giáo sư này nhận thấy ở Pasteur tiềm ẩn một tài năng và nhận làm trợ lý nghiên cứu cho mình.Ở tuổi 25, Pasteur nhận bằng tiến sĩ khoa học. Trong những năm 1861-1862, ông đã công bố các nghiên cứu về việc rượu vang xuất khẩu bị chua là do tác động của các vi khuẩn acetic và được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học. Một năm sau, Napoléon III yêu cầu ông nghiên cứu về các bệnh ở nho, về ảnh hưởng của ôxy đối với quá trình sản xuất rượu vang. Pasteur cũng công bố các nghiên cứu về bệnh của tằm và phương pháp khử trùng mới của mình: khử trùng ở 63 độ C trong 30 phút hoặc 72 độ C trong 15 giây.Năm 1868, Pasteur nhận bằng bác sĩ y khoa ở Đại học Bonn (Đức) và được thưởng Bắc đẩu bội tinh. Sau đó thật không may, ông bị liệt nửa người trái, nhưng con người khoa học trong ông vẫn vượng sức với sự lao động miệt mài và không ngừng sáng tạo. Nhà khoa học này đã nghiên cứu về bệnh than và sự nhiễm trùng máu, công bố lý thuyết về mầm bệnh và việc ứng dụng chúng trong y học, về sự hoại thư và về sốt hậu sản.59 tuổi, Luis Pasteur công bố các nghiên cứu về bệnh sốt vàng và thành công trong việc chế tạo văcxin chống bệnh than. Sau đó, ông nghiên cứu về bệnh đóng dấu ở lợn và chế tạo ra văcxin phòng bệnh này.Tháng 7 năm 1885 là mốc rất quan trọng trong lịch sử y học, khi ông thành công trong việc sử dụng văcxin chống bệnh dại ở người. Bệnh nhân là cháu bé Joseph Meister, 9 tuổi, bị chó dại cắn 14 vết rất nặng trên tay. Mặc dầu đã thử nghiệm nhiều lần văcxin của mình trên động vật nhưng Pasteur rất hồi hộp khi phải bắt buộc dùng trên cơ thể người vì giữa người và vật có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau... Nhưng chỉ ít hôm sau, ông đã sung sướng viết cho con mình để báo tin Joseph Meister đã ra viện, 3 vết tiêm sau cùng của cháu hơi bị tấy đỏ nhưng không can gì. Cháu vẫn ăn ngon, ngủ yên, không sốt...Sau 3 tháng và 21 ngày tiêm thuốc, bé Meister vẫn khỏe mạnh như thường. Và Pasteur báo cáo về thành công này trước Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Chủ tịch Viện nói: "Vinh quang thay cho nền khoa học khi phát minh ra phương pháp chống bệnh dại - một bệnh khủng khiếp mà bao nhiêu thế kỷ nay chưa ai thoát khỏi tử vong. Từ hôm nay, nhân loại đã được trang bị một vũ khí để chống lại căn bệnh quái ác này".Một tháng sau đó, Pasteur được bầu làm thư ký vĩnh viễn của Viện Hàn lâm khoa học Pháp, nhưng ông lại bị liệt nốt nửa người phải. Cũng trong năm này, ông tham gia vào thực nghiệm dùng vi khuẩn để tiêu diệt đàn thỏ sinh sản quá mức trong môi trường tự nhiên ở Australia. 10 năm sau, Pasteur qua đời sau một cơn urê huyết cấp.Khoảng 3 năm sau khi thử nghiệm thành công văcxin dại, Viện Pasteur đầu tiên đã được khánh thành ở Paris. Sau đó, các viện Pasteur lần lượt mọc lên ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam, và hàng chục triệu liều văcxin chống dại đã được sản xuất.

Isaac Newton - Nhà khoa học phát hiện ra lý thuyết trọng lực và các định luật chuyển động


Isaac Newton - Nhà khoa học phát hiện ra lý thuyết trọng lực và các định luật chuyển động Isaac Newton sinh ra tại một ngôi nhà ở Woolsthorpe, gần Grantham ở Lincolnshire, Anh, vào ngày 4 tháng 1 năm 1643. Ông chưa một lần nhìn thấy mặt cha, do cha ông, một nông dân cũng tên là Isaac Newton, mất sớm vào tháng 10 năm 1662. Sống không hạnh phúc với bố dượng từ nhỏ, Newton bắt đầu những năm học phổ thông trầm uất, xa nhà và bị gián đoạn bởi các biến cố gia đình. May mắn là do không có khả năng điều hành tài chính trong vai anh cả sau khi bố dượng mất, ông tiếp tục được cho học Đại học (trường Trinity College Cambridge) sau phổ thông vào năm 1661, sử dụng học bổng của trường với điều kiện phải phục dịch các học sinh đóng học phí.Mục tiêu ban đầu của Newton tại Cambridge là tấm bằng luật sư với chương trình nặng về triết học của Aristotle, nhưng ông nhanh chóng bị cuốn hút bởi toán học của Descartes, thiên văn học của Galileo và cả quang học của Kepler. Ông đã viết trong thời gian này: "Plato là bạn của tôi, Aristotle là bạn của tôi, nhưng sự thật mới là người bạn thân thiết nhất của tôi". Tuy nhiên, đa phần kiến thức toán học cao cấp nhất thời bấy giờ, Newton tiếp cận được là nhờ đọc thêm sách, đặc biệt là từ sau năm 1663, gồm các cuốn Elements của Euclid, Clavis Mathematica của William Oughtred, La Géométrie của Descartes, Geometria a Renato Des Cartes của Frans van Schooten, Algebra của Wallis và các công trình của François Viète.Ngay sau khi nhận bằng tốt nghiệp, năm 1665, ông phải trở về nhà 2 năm vì trường đóng cửa do dịch cúm. Hai năm này chứng kiến một loạt các phát triển quan trọng của Newton với phương pháp tính vi phân và tích phân hoàn toàn mới, thống nhất và đơn giản hoá nhiều phương pháp tính khác nhau thời bấy giờ để giải quyết những bài toán có vẻ không liên quan trực tiếp đến nhau như tìm diện tích, tìm tiếp tuyến, độ dài đường cong và cực trị của hàm. Tài năng toán học của ông nhanh chóng được hiệu trưởng của Cambridge nhận ra khi trường mở cửa trở lại. Ông được nhận làm giảng viên của trường năm 1670, sau khi hoàn thành thạc sĩ, và bắt đầu nghiên cứu và giảng về quang học. Ông lần đầu chứng minh ánh sáng trắng thực ra được tạo thành bởi nhiều màu sắc, và đưa ra cải tiến cho kính thiên văn sử dụng gương thay thấu kính để hạn chế sự nhoè ảnh do tán sắc ánh sáng qua thuỷ tinh.Newton được bầu vào Hội Khoa học Hoàng gia Anh năm 1672 và bắt đầu vấp phải các phản bác từ Huygens và Hooke về lý thuyết hạt ánh sáng của ông. Lý thuyết về màu sắc ánh sáng của ông cũng bị một tác giả phản bác và cuộc tranh cãi đã dẫn đến suy sụp tinh thần cho Newton vào năm 1678. Năm 1679 Newton và Hooke tham gia vào một cuộc tranh luận mới về quỹ đạo của thiên thể trong trọng trường. Năm 1684, Halley thuyết phục được Newton xuất bản các tính toán sau cuộc tranh luận này trong quyển Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các Nguyên lý của Triết lý về Tự Nhiên). Quyển sách đã mang lại cho Newton tiếng tăm vượt ra ngoài nước Anh, đến châu Âu.Năm 1685, chính trị nước Anh thay đổi dưới sự trị vì của James II, và trường Cambridge phải tuân thủ những điều luật phi lý như buộc phải cấp bằng cho giáo chủ không thông qua thi cử. Newton kịch liệt phản đối những can thiệp này và sau khi James bị William III đánh bại, Newton được bầu vào Nghị viện Anh nhờ những đấu tranh chính trị của ông.Năm 1693, sau nhiều năm làm thí nghiệm hoá học thất bại và sức khoẻ suy sụp nghiêm trọng, Newton từ bỏ khoa học, rời Cambridge để về nhận chức trong chính quyền tại Luân Đôn. Newton tích cực tham gia hoạt động chính trị và trở nên giàu có nhờ bổng lộc nhà nước. Năm 1703 Newton được bầu làm chủ tịch Hội Khoa học Hoàng gia Anh và giữ chức vụ đó trong suốt phần còn lại của cuộc đời ông. Ông được Nữ hoàng phong tước hiệp sĩ năm 1705. Những năm cuối đời, Newton trải qua một cuộc cãi cọ phức tạp với Leibniz về việc ai là người sáng tạo ra giải tích trước. Ông mất ngày 31 tháng 3 năm 1727 tại Luân Đôn.

Charles Darwin - Người làm thay đổi các quan điểm của tôn giáo


Charles Darwin sinh ngày 12/2/1809 tại thành phố Shrewbury nước Anh trong một gia đình trí thức. Cha của ông là một bác sĩ giỏi, anh trai ông cũng là một bác sĩ. Ông bố rất muốn Charles cũng trở thành bác sĩ nhưng ngay từ bé cậu chẳng thích thú gì với nghề này, chỉ thích săn bắt và rong chơi. Người cha đã phải thất vọng nói với Charles: “Mày chẳng quan tâm đến thứ gì khác ngoài việc săn bắt, rồi mày sẽ là một điều ô nhục cho bản thân mày và gia đình mày”. Các thầy giáo ở nhà trường cũng đồng quan điểm đó với cha ông. Khi xong trung học, Darwin dành nhiều thời gian để đi lang thang trong những cánh rừng quanh vùng, cậu thích sưu tập những vật như đá, côn trùng,cây cỏ,v.v khiến người cha càng điên tiết.Người cha đã buộc cậu phải đến Edinburg học trường đại học Y, nhưng khi tới đó, Darwin lao vào sưu tầm các sinh vật biển, gặp gỡ những người khác quan tâm đến sinh vật và gia nhập vào giới nghiên cứu lịch sử tự nhiên. Việc học ở trường Y bị sao nhãng, sau đó cậu bỏ hẳn. Người cha rất thất vọng khi Darwin không thể nào trở thành bác sĩ, nhưng dầu sao cậu cũng phải có một nghề gì đó để vào đời, thế là người cha quyết định cậu sẽ trở thành một cha đạo ở nông thôn. Nhưng muốn làm giáo sĩ thì phải có học, vì vậy cậu phải đi học. Thế là Charles Darwin lại xuống miền Nam, vào học đại học Cambridge. Trong thời gian này cậu chỉ chú tâm vào hai việc: sưu tầm bọ cánh cứng và săn bắn. ở đây, có hai người rất đồng cảm với sự quan tâm của cậu về khoa học và sau này là bạn cậu, đó là nhà thực vật học John Henslow và nhà địa chất Adam Sedgwick. Henslow đã mở rộng tầm nhìn của Darwin, ông dẫn cậu đi theo những đợt khảo sát thực tập, tiếp đón cậu tại nhà và cho cậu đọc các tác phẩm của nhà thám hiểm và nhà tự nhiên học nổi tiếng của Đức là Alexander von Humboldt. Mặc dù học hành phất phơ, Darwin vẫn xoay xở để đạt được mảnh bằng tốt nghiệp đại học vào năm 1831. Tháng 8 năm đó Darwin nhận được một lá thư làm thay đổi cả cuộc đời cậu. Henslow và George Peacok, một nhà khoa học ở đại học Cambridge, đã viết thư thông báo cho Darwin là Chính phủ Anh đang tiến hành khảo sát bờ biển Nam Mỹ và một vài hòn đảo ở Thái Bình Dương. Họ được yêu cầu tiến cử một người để làm việc với tư cách là nhà tự nhiên học cho chuyến đi, quan sát, ghi chép và sưu tầm bất cứ thứ gì liên quan đến các vùng đất mà con tàu ghé thăm. Họ đã chuyển lời mời này đến Darwin. Lời mời khiến Darwin hồi hộp, cậu hầu như không tin vào điều đó. Tại sao người ta lại mời cậu - một người vừa tập tễnh bước vào môn khoa học tự nhiên? Thì ra lý do rất đơn giản: thuyền trưởng con tàu khảo sát là một thanh niên không lớn hơn Darwin bao nhiêu, ông ta cũng muốn có bầu bạn cùng trang lứa trong suốt cuộc hành trình. Quá sung sướng, Darwin ngay lập tức nhận lời nhưng cậu gặp phải cản trở là cha cậu, ông chỉ muốn cậu có một công việc “xứng đáng” theo ý ông. Ông tuyên bố: Nếu con tìm được bất cứ người nào có lương tri khuyên con nên đi thì ba sẽ bằng lòng. Chán nản, Charles Darwin bỏ đi chơi thăm bà con, bạn bè trong vùng và đến chỗ ông cậu săn gà gô. Cậu ruột ông- Josiah khi nghe cháu kể lại chuyện bị cha cản trở không cho đi khảo sát ở Nam Mỹ thì rất bức xúc, ông cho rằng đây là dịp may tuyệt vời và ngay lập tức kéo Darwin về nhà thuyết phục cha của Darwin. Cha cậu buộc phải chấp nhận vì rõ ràng cậu Josiah là người “có lương tri”. Hành trình khám phá thế giới tự nhiên Ngày 27 tháng 12 năm 1831 con tàu Beagle nhổ neo khởi hành tiến vào Đại Tây Dương mang theo Charles Darwin - người mà sau đó đã làm chấn động nhân loại vì học thuyết của mình. Darwin đến Nam Mỹ sau 63 ngày lênh đênh trên biển. Nơi đây là một thiên đường giành cho chim thú, côn trùng và thảo mộc. Công việc của Darwin là săn lùng các mẫu vật, lột da và nhồi bông để gửi về quê hương nước Anh. ở Achentina, Darwin đã phát hiện ra một nghĩa địa của những con vật khổng lồ, những “quái vật” đã bị tuyệt chủng. Những mẩu xương đầu tiên mà Darwin khai quật xưa kia thuộc về một sinh vật khổng lồ gọi là Megatherium, tiếp đó là một loài thú gặm nhấm Megalonyx, sau đó là con Scelidotherium, v.v. Hết sức phấn khởi, Darwin đã mang những vật khổng lồ sưu tầm được về tàu khiến thuỷ thủ đoàn tức điên lên vì họ cho là ông làm bẩn tàu. Trong khi đó Darwin nghiền ngẫm kho tàng quý báu của mình, ông đặt câu hỏi: Mối quan hệ giữa các vật hoá thạch và các loài tương cận hiện nay là gì? Tại sao các sinh vật khổng lồ này biến mất? Chúng đã biến mất như thế nào?. Theo Darwin, có những thay đổi nào đó trong những điều kiện sống đã tiêu diệt những loài thú khổng lồ. Nhưng là những thay đổi nào? Vì sao tất cả đều bị huỷ diệt? Những bản sao nhỏ hơn của chúng như con lười, con ta-tu và con Capybana sao còn tồn tại? Những loài thú này có cạnh tranh với các loài thú khổng lồ và ngốn hết thức ăn của chúng hay không?. Hành trình men theo bờ biển phía Đông càng ngày càng làm Darwin hiểu thêm nhiều điều về sức mạnh của tự nhiên và tác động của nó. Trên dải núi Anđét, ông bắt gặp những lớp vỏ sò hoá thạch còn sót lại trên đỉnh núi. Khi tàu bỏ neo ở bờ biển Chilê, ông chứng kiến núi lửa phun. Không lâu sau đó ở thành phố Conception ông đã chứng kiến hậu quả khủng khiếp của động đất làm thay đổi bề mặt của vùng đất đó… Ông luôn quan sát, ghi chép cẩn thận mọi điều. Ngày 15/9/1835 tàu đến quần đảo Galapagos, đây là một nơi bảo tồn thế giới động vật tự nhiên cực kỳ phong phú. Darwin đã bị mê hoặc bởi các sinh vật trên đảo và khám phá ra nhiều điều lạ như rùa ở các đảo khác nhau có những dấu hiệu khác nhau, chỉ một loài chim Kim Oanh cũng có những kiểu mỏ khác nhau, v.v. Sau cuộc hải trình đến Thái Bình Dương, qua ấn Độ Dương và tiến lên phía bắc vượt Đại Tây Dương, vào tháng 10/1836, sau 5 năm lênh đênh khắp châu Mỹ ông đã về quê hương nước Anh. Ông hết sức ngỡ ngàng và thích thú khi thấy mọi người đều biết đến ông và công việc của ông, thì ra họ đã đọc những bức thư và xem các mẫu vật ông gửi về. Hiệp hội địa chất đã chấp nhận ông làm thành viên và sau đó bổ nhiệm ông làm thư ký Hiệp hội. Tiếp theo là thời gian bận rộn nhất, Darwin phải nghiên cứu tất cả các mẫu vật ông đã sưu tập như quan sát xếp loại, ghi chép các kết quả. Ông đã cho phát hành bộ sách gồm 5 tập mô tả việc nghiên cứu động vật qua chuyến đi khảo sát, ông còn viết một quyển nhật ký hành trình có tên “Nhật ký về những cuộc khảo sát trong cuộc hành trình trên tàu Beagle”. Năm 1842 Darwin bắt đầu công việc làm ông nổi tiếng trên toàn thế giới sau này. Ông quan sát và làm thí nghiệm không biết mệt mỏi như chọn bồ câu, nghiên cứu việc thụ phấn của những cây nhựa ruồi, lai tạo những loại bắp cải và phân tích các kết quả. Darwin nghiên cứu một lý thuyết để kiểm tra ngược lại các khám phá, để hình dung và kiểm tra lại một lần nữa.Thuyết tiến hoá gây chấn động thế giới Năm 1838 tình cờ ông đọc được quyển sách của nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng Thomas Malthus có tên: “Tiểu luận về nguyên tắc dân số”. Thomas mô tả tương lai bi thảm của loài người do gia tăng dân số qúa nhanh, cứ 25 năm dân số sẽ tăng gấp đôi. Nguồn dự trữ lương thực không gia tăng nhanh như vậy, do đó con người luôn bị nạn đói đe doạ. Những yếu tố kiểm soát được dân số là những thảm họa như chiến tranh, đói kém và bệnh dịch, nếu một số người còn sống thì số khác phải chết, cuộc sống chính là một cuộc đấu tranh triền miên… Đọc sách của Malthus, lập tức Darwin liên tưởng đến thế giới động thực vật. Động thực vật gia tăng còn nhanh gấp nhiều lần con người. Tất cả mọi sinh vật đều phải ganh đua nguồn thức ăn, phải đấu tranh với nhau để tồn tại. Những loài tồn tại được là những loài thích ứng tốt nhất với hoàn cảnh, chúng có đặc điểm nhỏ so với đồng loại của chúng. Khi tồn tại chúng sẽ sinh sản con cái và cháu chắt của chúng cũng với hình thức như thế. Ông đã đưa ra ý tưởng các loài trên thế giới không phải được hình thành bởi sự sáng tạo đơn giản, đột ngột của Thượng đế. Thay vào đó chúng đã phát triển, tiến hoá từ những loài có mặt sớm hơn. Sức mạnh làm cho các loài mãi tiến hoá đó là sự chọn lọc tự nhiên. Quá trình bảo tồn các đặc điểm giúp cho một cá thể sinh tồn. Trong mỗi loài những đặc điểm riêng sẽ truyền từ thế hệ những con vật sống sót này đến thế hệ tiếp theo, sau cùng chúng được chia sẻ bởi một số lớn cá thể. Bây giờ tất cả những cá thể này đều là thành phần của một loài mới, khác với loài mà từ đó nó đã phát sinh. Từ loài mới, một hoặc thậm chí nhiều hơn các loài mới hơn có thể xuất hiện. Đến lượt chúng, chúng cũng có thể đã thay đổi ngày càng nhiều và khác nhau cũng như khác với loài đã sinh ra chúng. Darwin đã bỏ ra chừng 14 năm để hoàn thiện lý thuyết của ông. Năm 1856 ông bắt tay vào viết quyển sách lớn “Nguồn gốc các loài” - đây là công trình vĩ đại của đời ông. Năm 1859, quyển sách được xuất bản đã gây chấn động dư luận. Quyển sách chỉ gồm 600 trang, nêu những quan điểm dứt khoát về nguồn gốc loài người. Ông viết ở những trang đầu: “Tôi tin chắc rằng động vật bắt nguồn hầu hết từ 4 hoặc 5 ông tổ mà thôi, còn thực vật cũng thế hoặc ít hơn”. Tiếp theo là một gợi ý có tính thăm dò, cho rằng tất cả các loài động thực vật có thể bắt nguồn từ một dạng tổ tiên đơn độc. Từ quan điểm thuần lý thì con người là gì nếu không phải là một loài … động vật. Cuốn sách của Darwin lúc đầu chỉ được in với số lượng rất khiêm tốn là 1250 bản, nhưng vừa xuất hiện nó đã bán rất chạy và nhà xuất bản phải in thêm rất nhiều. Cuốn sách đã bị giáo hội đả kích kịch liệt bởi theo Darwin viết trong sách thì con người không phải “được tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế” như những rao giảng của Kinh thánh, con người không phải là chúa tể của sự sáng tạo, những kẻ vượt trội hơn mọi vật khác trên thế giới mà chỉ là những sinh vật như bất cứ sinh vật nào khác, được tiến hoá từ những sinh vật đầu tiên. Giới khoa học, ngược lại, chấp nhận chủ thuyết của Darwin, đến năm 1870 có đến ba phần tư các nhà sinh vật học nước Anh theo thuyết tiến hoá, năm 1880, hầu hết họ ủng hộ quan điểm của Darwin. Trên đà thắng lợi, năm 1867 Darwin đã viết sách về nguồn gốc loài người có tên: “Hậu duệ của con người” công bố năm 1871, khẳng định loài người và loài khỉ cụt đuôi đã tiến hoá từ cùng một tổ tiên như nhau: một loài bốn chân. Cũng như cuốn trước, cuốn sách này đã tạo ra sự náo động trong dư luận và giáo hội gay gắt phản đối. Darwin chẳng hề quan tâm đến điều đó, ông tiếp tục viết tiếp cuốn sách có tên: “Biểu lộ cảm xúc ở người và loài vật” bàn về những cách thức mà loài người và loài vật biểu lộ cảm xúc, Darwin đã công bố những khám phá về sự biểu lộ và cử chỉ chung cho cả hai loài. Chân lý thuộc về ông, Darwin đã được tặng thưởng Huân chương Copley của Hiệp hội Hoàng gia về những công trình nghiên cứu địa chất, động vật học và sinh vật học của ông. Ngày 19 tháng 4 năm 1882 Charles Darwin mất, hưởng thọ 73 tuổi. Ông đã được Chính phủ Anh tổ chức tang lễ với nghi thức Quốc tang và được chôn tại tu viện Westminster ở London - nơi chỉ dành cho các vĩ nhân

Guglielmo Marconi - Cha đẻ của vô tuyến điện


Ngày 25 tháng 4 năm 1874, tại vùng Bologne nước ý có một cậu bé chào đời, đó là Giuglielmo Marconi - người sau này bằng phát minh của mình đã tạo nên một cuộc cách mạng trong công nghiệp truyền thông.Gia đình Marconi khá giàu có, cha cậu là một điền chủ, họ sống trong ngôi biệt thự lộng lẫy ở Pontechio, mùa đông họ chuyển đến sống ở Florence - nơi có khí hậu ấm áp hơn. Guglielmo được chăm sóc rất đầy đủ, cậu có các gia sư riêng nhưng cậu rất lười học và không bao giờ được gọi là một đứa trẻ ngoan. Tuy nhiên cậu cũng có hai nét tính cách mà sau này tỏ ra hữu ích trong công việc, đó là cậu có thể tập trung cao độ để làm việc trong một thời gian dài và cậu có thể thuyết phục được người khác tin vào những cái cậu làm. ở trường học cậu chỉ thích các môn hoá học, vật lý và đặc biệt là điện. Trước khi Marconi ra đời 10 năm - năm 1864, một nhà bác học xứ ê-cốt là James Clerk Maxwell đã đưa ra lý thuyết: Sự biến đổi dòng điện trong một vật dẫn sẽ gây ra một sự phát sóng trong không trung, giống như một hòn đá thả xuống nước tất sẽ sinh ra những vòng sóng lan toả ra xung quanh. Những sóng ấy vừa là từ, lại vừa là điện nên người ta gọi nó là sóng điện từ. Chúng có thể được dò ra nhờ các thiết bị điện. Maxwell còn nêu ra ý kiến rằng những tia sáng chỉ là một dạng có thể nhìn thấy được của các sóng điện từ. Tất cả các sóng điện từ đều tự lan truyền với tốc độ của ánh sáng. Điều đó sau này đã được chứng minh hoàn toàn chính xác. Vào tuổi 20, Marconi lao vào nghiên cứu khoa học. Marconi say mê nghiên cứu lý thuyết của Maxwell và nhất là các công trình của Heinrich Hertz - một nhà khoa học Đức. Hertz không cần dây dẫn đã phóng được sóng ête (điện từ) trên một khoảng cách vài mét và ông đã dò ra được chúng. Từ việc làm của Hertz, Marconi nảy ra ý định: với máy điện báo và điện thoại, người ta có thể phát đi qua dây dẫn những thông tin dưới dạng những ký hiệu điện. Vậy thì người ta có thể phát đi những sóng điện từ cũng mang những thông tin ấy dưới dạng ký hiệu được không? Thế là từ đó Marconi nghiên cứu tập trung vào ý tưởng “điện báo vô tuyến” đến khi thành công. Quá trình nghiên cứu Marconi gặp thuận lợi vì được thừa hưởng một số thành tựu của những nhà bác học đi trước. Năm 1890, nhà vật lý người Pháp là Edouard Branly đã nghĩ ra máy “liên kết bằng mạt” cho phép người ta có thể thu được những ký hiệu vô tuyến. Máy của Branly là một máy dò sóng héc (điện từ) được cấu tạo bởi một ống thuỷ tinh chứa mạt kim loại và hai đầu được đóng kín bằng hai cực điện. Dưới tác động của sóng, các hạt kim loại đó tập hợp lại thành mạch và trở thành vật dẫn điện. Marconi đã dùng hai gian phòng rộng trên gác xép của biệt thự để làm thí nghiệm. Cậu thử lại rồi nâng cao những thí nghiệm của Hertz và những người khác. Những thiết bị chủ yếu trong phòng thí nghiệm đều do Marconi tự chế tạo. Trong gia đình chỉ duy nhất bà mẹ hiểu và khích lệ công việc của cậu, cũng chỉ có bà mới được vào phòng thí nghiệm. Vào một đêm tháng 12 năm 1895, Marconi đánh thức mẹ dậy và khoe với bà thành công đầu tiên của cậu. Phía cuối của gian phòng đặt một máy phát sóng vô tuyến, còn ở đầu kia là một máy thu mắc nối với một cái chuông nhỏ. Khi Marconi ấn vào nút điện đặt ở máy phát, máy phát ra những sóng điện từ và lập tức ở đầu kia máy thu nhận được chúng và tiếng chuông reo lên. Mẹ cậu không ngớt lời ca ngợi thành công này còn ông bố thì thản nhiên cho rằng cậu mất thời gian vào một việc lẩm cẩm, theo ông để làm cho chuông reo có nhiều cách đơn giản hơn nhiều, không việc gì cần đến hai cỗ máy cồng kềnh kia. Sau thành công đầu tiên, Marconi chuyển qua chặng đường nghiên cứu tiếp theo. Cậu tiến hành các thí nghiệm ở ngoài trời, giữa khu vườn của biệt thự. Bố cậu không tán thành công việc này bởi ông sợ có người sẽ bị vấp ngã vì vướng phải những sợi dây cáp giăng mắc lằng nhằng ở trong vườn. Marconi đã chế ra chiếc máy phát mạnh hơn và máy thu nhạy hơn. Máy phát mà Marconi sáng chế gồm một máy dao động điện nhanh, gắn với dòng điện có hai cực đặt sát nhau, ở giữa phóng ra những tia sáng tạo sóng. Trên một cực, Marconi mắc một sợi dây nối với một xilanh bằng kim loại, cực kia nối với một tấm kim loại chôn dưới đất. Tia sáng càng lớn thì sóng vô tuyến càng mạnh. Sóng vô tuyến kết tụ những phân tử các-bon hay những phân tử kim loại chứa trong chiếc hộp hình ống để cho dòng điện chạy qua. Marconi cũng cải tiến cả anten. Cậu đã thử nghiệm trên nhiều cự li, nhiều vị trí đặt, nhiều kiểu cấu trúc anten và ở những chiều cao khác nhau để chỉnh anten làm sao cho các sóng có thể lan truyền được xa nhất. Mỗi lần cải tiến lại cho phép Marconi và nhóm công nhân giúp việc của cậu dò ra được những sóng vô tuyến (hay sóng hec) trên một khoảng cách ngày càng xa, mới đầu còn trong khu vườn biệt thự, sau đó vượt khỏi vườn. Máy có thể truyền đi những thông tin được mã hoá bằng ký hiệu Moóc, nghĩa là thay chữ cái bằng các gạch ngang và dấu chấm. Cuối cùng ngay cả ông Giuseppe Marconi cũng bị cuốn hút vào công việc của cậu con trai. Nhóm của cậu con với bộ đồ nghề gồm những cuộn bô bin, những ống thuỷ tinh và dây điện đã có thể phát đi những sóng vô tuyến và thu được nó bằng một máy thu đặt tít phía bên kia đồi, khuất hẳn khỏi tầm nhìn. Đến đầu năm 1896 máy phát và máy thu có thể đặt cách nhau xa tới 2 km. Marconi đã hoàn thành được thiết bị đầu tiên về điện báo không dây. Cậu có thể phát đi những bức điện bằng ký hiệu Moóc trên những khoảng cách mỗi ngày một xa. Thành công này của Marconi là một cuộc cách mạng vĩ đại của công nghiệp truyền thông. Năm 1896, Marconi đến London, ông đã gặp William Preece là kỹ sư trưởng của sở bưu điện London. Preece đã đứng ra tổ chức một cuộc giới thiệu về điện báo không dây của Marconi và đã thành công tốt đẹp. Cũng trong năm này Marconi đã nhận được bằng sáng chế đầu tiên về thiết bị vô tuyến điện báo. Giấc mơ của Marconi là tăng thêm tầm xa của sóng vô tuyến. Ông tiếp tục tiến hành những thí nghiệm để cải tiến thiết bị. Vào những năm 1897 - 1898, máy vô tuyến điện đã bước vào giai đoạn ứng dụng trong thực tế. Một trạm vô tuyến đã được xây dựng ở Alum Bay trên đảo Wight với cột tín hiệu cao 37m. Năm 1898, Marconi đã đặt một hệ thống vô tuyến trên bờ biển phía Bắc Ailen, nó được ghép với ngọn hải đăng Rathlin Island, hệ thống thứ hai được dựng lên ở Ballycastle. Từ đó những tàu biển đi lại ngoài khơi có thể nhận được những thông tin từ đất liền. Vào tháng 7 năm 1898, tờ Tin nhanh Dublin của Ailen là tờ báo đầu tiên nhận được tin tức bằng vô tuyến. Trong một cuộc đua thuyền buồm ở biển Island, Marconi đích thân đứng ra đưa tin. Ông theo đoàn đua trên một tàu kéo và điện báo những tin tức của cuộc đua cho một trạm thu đặt ở Kingstown. Cũng trong năm 1898, thái tử xứ Uên (sau này là vua Edouard VII) do bị đau đầu gối nên ở lại trên du thuyền, nữ hoàng thì ở đảo Wight. Để tiện liên lạc giữa hai nơi, Marconi đợc mời đến đặt một trạm vô tuyến trên du thuyền và một trạm nơi ở của nữ hoàng. Trong 16 ngày nữ hoàng và thái tử đã trao đổi với nhau khá dễ dàng khoảng 150 bức điện. Ngày 3/3/1899, một con tàu chạy bằng hơi nước bị mắc cạn ở Goodwin Sands, tàu hải đăng đánh điện về đất liền, lập tức những tàu cứu hộ được điều đến ứng cứu. Tất cả thuỷ thủ đoàn và chuyến hàng trị giá trên 50.000 bảng Anh đã được cứu thoát.Ngày 1/3/1899, từ một trạm phát ở Wimereux của Pháp, bức điện đầu tiên bằng vô tuyến điện đã được phát đi, vượt qua biển Manche để tới nước Anh (hai trạm đặt cách nhau 51 km). Cuộc thử nghiệm thành công đã gây ấn tượng mạnh mẽ với chính phủ các nước về tác dụng của vô tuyến. Rất nhiều nước đã đặt hàng vô tuyến điện báo. Thành công này đã khiến Marconi có ước muốn những sóng vô tuyến có thể vượt Đại Tây Dương. Marconi và nhóm của ông bắt tay vào cải tiến các thiết bị vô tuyến thêm một bước. Năm1900, ông nhận thêm bằng sáng chế cho những máy phát và máy thu có gắn thêm một hệ thống điều chỉnh mới và chỉ có một anten có khả năng phát và thu trên nhiều tần số khác nhau. Tháng 7 năm 1900, ông cho xây một trạm vô tuyến có công suất mạnh ở Poldhu (Anh), một trạm thu khác được xây dựng ở Saint Johns thuộc phía đông Canada ở bên kia Đại Tây Dương, cách trạm phát hơn 2700 km. Ngày trọng đại đã đến: Ngày 12 tháng 12 năm 1901, Marconi nghe thấy ba tiếng “tic...tic...” yếu ớt trong máy thu từ nước Anh truyền đến. Những tiếng tic... tic lặp đi lặp lại, đó chính là chữ S trong tín hiệu Moóc. Chữ S được lựa chọn vì nó dễ nhận biết. Thế là vô tuyến đã vượt được Đại Tây Dương, tin này thật bất ngờ và kinh ngạc, ngay cả nhà phát minh vĩ đại của nước Mỹ Thomas Edison cũng phải hỏi lại: “Có thể ông thu phải những tín hiệu nhiễu chăng?”. Tuy nhiên vô tuyến giữa hai châu lục lúc này hoạt động rất yếu, không thể bằng hệ thống cáp ngầm đặt dưới đáy biển. Marconi hiểu rằng nếu không cải tiến điều này thì vô tuyến không thể cạnh tranh được với hệ thống điện báo bằng cáp ngầm. Ông và các đồng sự bắt tay vào cải tiến thiết bị, họ phải tạo ra được những tia sáng mạnh có bước sóng dài 5 cm. Giáo sư Ambrose Fleming, một đồng nghiệp của Marconi đã nghĩ ra một biến áp kép để làm cho điện áp mạnh lên rất nhiều trước khi phát. Sang năm 1903, việc truyền tin giữa hai châu lục tiến hành tốt, các bức điện đã chuyển một cách dễ dàng. Thomas Edison rất ca ngợi thành tựu của Marconi, ông khẳng định người ta sẽ khó mà thấy hết được tầm cỡ công trình của Marconi. Năm 1906, ứng dụng kỹ thuật điều biên (AM), nhà vật lý người Mỹ Reginald Fessenden đã truyền đi qua vô tuyến tiếng nói của mình đến các tàu đang xuôi ngược trên Đại Tây Dương, đây là một tiến bộ lớn bởi trước đó vô tuyến mới chỉ chuyển được những thông tin điện báo bằng ký hiệu Mooc nghĩa là bằng các gạch và dấu chấm. Sau đó kỹ thuật vô tuyến nhờ phát minh ra đèn 3 cực của Lee de Forest đã có bước tiến lớn. Đèn này có thể khuếch đại những tín hiệu điện yếu mà máy nhận được. Cho đến lúc bấy giờ dòng điện có được là dòng điện sinh ra trong anten bởi các sóng vô tuyến, nó rất yếu và chỉ đủ để chạy một máy nghe. Nay với đèn 3 cực, những tín hiệu ấy được khuếch đại và có thể chạy qua loa phóng thanh mạnh. Với những phát minh của mình, Marconi đã lên đến tột đỉnh vinh quang. Năm 1909, ông đã được trao giải Nobel về vật lý vì đóng góp to lớn của ông về điện báo không dây. Càng ngày phát minh của Marconi càng đóng vai trò to lớn trong đời sống con người. Năm 1912, tàu Titanic bị chìm làm 1500 người chết, 700 người khác nhờ có vô tuyến phát đi tín hiệu cấp cứu đã được cứu thoát. Trong chiến tranh vô tuyến đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc liên lạc, truyền tin tức. Vào những năm 20, đài phát thanh - một ứng dụng của vô tuyến đã đi vào đời sống con người. Những năm 1950-1960, truyền hình bắt đầu tiếp bước cho vô tuyến bằng cách sử dụng sóng vô tuyến. Ngày nay sóng vô tuyến có mặt ở khắp nơi: vô tuyến truyền hình, máy thu thanh, điện thọai di động, điều khiển từ xa, Rada... Nhờ Marconi mà thế giới bước vào kỷ nguyên của thông tin vô tuyến điện

(từ thegioiebook.com)

Thomas Edison - Nhà phát minh vĩ đại của nhân loại


Thomas Edison sinh năm 1847 tại tỉnh Milan, bang Ô-hi-ô (Hoa Kỳ). Khi lên 5 tuổi, gia đình ông chuyển sang sống ở Po Hu-rôn thuộc bang Michigân. Thuở bé, Tôm (tên thân mật của Edison) là một chú bé luôn tìm hiểu mọi vật quanh mình và muốn hiểu thấu đáo các vật đó. Cái gì cũng làm cậu ngạc nhiên. Nếu không hỏi ai được thì tự mình tìm cách trả lời. Ngay từ bé cậu đã say mê với các cuốn sách và tập làm thí nghiệm. Nhưng chính sự tò mò này đã làm cậu sớm phải rời khỏi trường học. Chuyện là thế này: Vào năm Edison học lớp bốn tiểu học, một hôm cậu xin được hai lọ nhỏ: một lọ đựng Axit, một lọ đựng Amôniac. Tôm muốn làm thí nghiệm xem hai chất đó có hoà tan được với nhau không. Nhưng vì phải ba tiếng sau buổi học mới kết thúc mà cậu nóng lòng muốn thí nghiệm ngay, thế là Tôm quyết định làm ngay ở trường. Khi hai chất này được đổ lẫn vào nhau, lập tức có một tiếng nổ bụp và một làn khói trắng đặc sệt bốc lên mù mịt cùng một mùi khó ngửi. Làn khói lan đi khắp trường, các bạn học sinh chạy ùa đi và hô cháy. Thực ra không hề có ngọn lửa vì Axit phản ứng với Amoniac chỉ sinh khói. Lính cứu hoả đến phun nước khắp trường. Khi “đám cháy” được dập tắt người ta truy tìm thủ phạm và thế là Tôm bị đuổi học. Nhà bác học vĩ đại của nhân loại này chỉ được học đúng đến lớp bốn tiểu học. Về nhà Tôm bị cha đánh cho một trận ra trò. Dưới con mắt của cha và mọi người, Tôm là một thằng bé loạn trí, chỉ có mẹ là luôn thông cảm và yêu quý Tôm, bà tin rằng Tôm sẽ trở thành người có ích.Bị đuổi học, Tôm phải sống một cuộc sống rất nặng nề, cha thường xuyên đánh, bạn bè thì chế giễu. Tuy thế lòng ham học của Tôm không hề giảm sút, trong căn hầm nhỏ của ngôi nhà - nơi mà Tôm biến thành phòng thí nghiệm, em vẫn miệt mài đọc các sách lý hoá và dần dần em đã đi sâu vào môn khoa học đó. Một sự việc bất ngờ xảy ra đã đưa cuộc đời Tôm sang một bước ngoặt. Hôm đó Tôm và chị gái Tania ra ga chơi. Lúc đó một điện báo viên nhà ga có vợ và con đến thăm, ông ta chạy ra đón con rồi vào làm việc tiếp, để cậu con 3 tuổi chơi quả bóng. Bất ngờ quả bóng tuột khỏi tay cậu bé, lăn vào giữa hai thanh ray đường tàu và mắc ở đấy. Cậu bé ngồi gỡ, vừa lúc ấy một đoàn tàu lao vào ga với tốc độ nhanh. Muộn mất rồi, không thể chạy đến kéo bé ra. Đúng lúc ấy Tôm quyết định lao ra nằm úp sấp lên em bé, ép chặt em xuống đất. Đoàn tàu chạy ầm ầm trên đầu hai em. Mọi người há mồm, đứng sững kinh hãi. Khi tàu chạy qua, Tôm và em bé đứng lên bình yên vô sự. Người cha em bé đang nhủn người đi vì đau đớn bỗng sướng như điên, ông ôm Tôm vào lòng và định biếu Tôm ít tiền để ăn quà. Tôm từ chối số tiền đó, cậu ngỏ ý muốn học nghề điện báo. Dĩ nhiên người điện báo viên đó đồng ý. Chỉ một thời gian ngắn cậu bé học nghề đó đã vượt thầy. Không những thế Tôm còn làm được cả một máy điện báo xinh xinh dùng được, bằng toàn ống bơ và hộp sắt. Đây là sáng chế đầu tiên của cậu bé thiên tài Edison. Nhưng cha cậu - ông Samuen Edison, không hài lòng chút nào. Với ông, những trò của cậu con thật vô bổ, nó coi thường những lời dạy bảo của ông. Một buổi chiều ông Samuen bắt Tôm phải vứt tất cả mọi đồ thí nghiệm của em đi. Tôm quá bực dọc nên quyết định bỏ nhà ra đi. Khi cậu vừa ra khỏi nhà thì mẹ cậu đột nhiên nổi cơn đau bụng dữ dội, lúc ấy cha cậu đi xa chưa về. Chị gái cậu là Tania chạy ra ga kịp gọi Tôm về. Tôm lập tức đi gọi bác sĩ còn Tania lên tàu đi Đi-tơ-roi để tìm anh trai cả là Bin. Bác sĩ đến chẩn đoán mẹ Tôm bị đau ruột thừa phải mổ gấp nhưng lúc ấy trời đã tối, mổ trong ánh sáng tù mù rất nguy hiểm, bác sĩ loay hoay không biết phải làm sao. Tôm chợt nghĩ ra một cách: Cậu đến hiệu tạp hoá định mượn một cái gương to nhưng cửa hiệu đã đóng. Không chút do dự, cậu đập vỡ cửa kính bê cái gương ra. Cậu để gương lên bàn, đốt tất cả các đèn nến để trước gương, ánh sáng phản chiếu từ gương hắt lên hố định dùng làm bàn mổ sáng như ban ngày. Bác sĩ rất mừng, ông lập tức bắt tay vào việc, và mẹ cậu đã được cứu thoát khỏi cơn hiểm nghèo. Trưa hôm sau, Tôm ra ga đón chị Tania và anh Bin. Cả nhà ga cũng lo sợ vì vừa nhận được điện báo chiếc cầu trên đường Pathurôn - Đi-tơ-roi bị gãy mà tàu số 7 đang lao vùn vụt trên theo hướng đó. Trên tàu ấy có cả anh Bin và chị Tania. Mọi người ở nhà ga kêu khóc và chạy lung tung, bối rối không biết phải làm sao. Lúc đó, một đầu tàu đi qua chợt kéo một hồi còi dài, một hồi còi ngắn để dẹp đường. Tiếng còi đã làm Tôm nảy ra một kế: cậu chạy đến chiếc tàu, đến bên chiếc tay quay để kéo còi, em kéo từng hồi còi theo tín hiệu moóc-xơ cho Tania: “Tania, hãm tàu lại, cầu gãy”. (Tania đã được Tôm dạy cho biết tín hiệu moóc-xơ). Trong lúc ấy, Tania đang trên tàu số 7, và thiu thiu ngủ, chợt cô nghe mơ màng như tiếng còi gọi đúng tên cô. Đúng rồi, Tôm đang đánh điện nhắc cho cô. Tania chạy vụt ra cửa toa bảo bác lái tàu hãm lại. Bác lái lúc đầu không chịu, tưởng em ngủ mơ nhưng Tania hét toáng lên khiến hành khách hoảng hồn. Bác lái đành hãm tàu lại cách chỗ cầu gãy gần 1 km và cho chạy từ từ. Hú vía, quả là cầu bị nước cuốn trôi, chỉ chút xíu nữa là cả đoàn tàu lao xuống sông, may mà Tôm báo kịp.16 tuổi, Edison lên tỉnh lị Đi-tơ-roi làm điện báo viên, ít lâu sau cậu chuyển sang làm điện báo ở Xitơratpho. Nhưng không lâu sau Tôm nhận thấy rằng công việc đó không thú lắm, vất vả mà lương chỉ vỏn vẹn 25 đô la một tháng, chủ công ty lại là người khắc nghiệt. Edison bỏ đi Mi-chi-gân, đang lang thang không một xu dính túi thì vừa hay đường dây điện báo từ công ty Mi-chi-gân tới ga Ađơrian bị đứt, không tìm được người nối dây vì lúc ấy giữa trưa. Tôm liền xin chữa. Xong công việc giám đốc công ty nhận Tôm vào làm với mức lương 80 đô la một tháng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn Tôm mất việc vì một sự bất ngờ: giám đốc sai cậu điện tới ga một tin khẩn, đường dây lúc đó đang bận, Tôm xin cắt đường dây để điện đi, Giám đốc đồng ý, nhưng ông Tổng Giám đốc biết chuyện bèn gọi Tôm lên quát nạt và sa thải (vì chỉ có Tổng giám đốc mới có quyền cho cắt đường dây), ông giám đốc hèn nhát không dám bênh Tôm. Thế là Tôm lại ra đi, anh đã trải qua nhiều chỗ làm nhưng ở đâu anh cũng bị bóc lột tàn tệ, chế độ làm việc khắc nghiệt. Tôm chẳng có thời gian suy nghĩ làm các thí nghiệm. Vả lại ước mơ của Tôm đâu phải suốt đời làm một điện báo viên, trong đầu anh có biết bao dự định. Anh đã đi NewYork - thành phố lớn nhất nước Mỹ, anh hy vọng thành phố lớn ấy có thể tạo cho anh con đường thoát khỏi mọi khó khăn bế tắc. Edison may mắn xin được vào làm ở công ty Gôn Ri-pôt-tinh, một công ty chuyên theo dõi giá vàng trên thị trường. Để làm được điều này công ty có những tổng đài điện báo khổng lồ, khó vận chuyển và bảo quản, hay hỏng hóc. Anh nhận được chân kiểm tra máy móc với mức lương khá hậu hĩnh. Công việc rất bận, làm 20h mỗi ngày, khiến anh bị kiệt sức rất nhanh. Vậy là sau một thời gian, tích luỹ được chút vốn, Edison đã cùng một người bạn là Flanklin Pop mở chung một văn phòng chuyên hướng dẫn về điện, xây lắp, bảo quản và sửa chữa đường dây điện báo, đường dây cáp, nguồn điện… Công việc của họ khá chạy. Điều quan trọng là Tôm được chủ động trong công việc của mình và không bị ai bóc lột. Năm ấy Edison 22 tuổi, cũng từ đây được giải phóng sức lao động của mình, Edison cho ra đời hàng ngàn phát minh. Công trình đầu tiên mà Edison làm là hoàn chỉnh hệ thống điện báo nhận các tin tức hối đoái ngân hàng. Đó là chiếc máy Tic-cơ do Lao-xơ phát minh năm 1867. Flanklin Pop cải tiến vài bộ phận nhỏ, sau đó năm 1869, Edison cải tiến thêm cho thật hoàn chỉnh. Đó là loại máy điện báo duy nhất hồi đó nhận nhanh các tin tức hối đoái ngân hàng. Tin đồn hoàn chỉnh máy Tic-cơ lan đi rất nhanh trong các giới liên quan đến ngân hàng. Lep-phe, một chủ tư bản hồi ấy đã quyết định mua lại của Edison chiếc máy ấy cùng với tất cả hồ sơ lý lịch của máy. Lep-phe hỏi giá máy định tính là bao nhiêu. Edison nghĩ mãi: ba ngàn hay năm ngàn đô. Ba ngàn thì ít mà năm ngàn thì hơi cao. Lưỡng lự mãi, anh trả lời rằng tuỳ Lep-phe định giá. Lep-phe đã trả Edison số tiền mà anh hết sức kinh ngạc: 40 ngàn đô la. Từ đó Edison rút ra kinh nghiệm không nên nói giá phát minh mà để người mua trả trước. Nhờ số tiền này mà Edison đã mở được một xưởng nhỏ chuyên làm theo hợp đồng, công việc rất phát triển, anh phải thuê thêm tới 50 công nhân. Anh em công nhân trong xưởng của Edison được hưởng mức lương cao, tinh thần lao động thoải mái. Từ một xưởng, dần dà Edison phải mở tới ba xưởng mới làm hết việc. Có những công ty điện báo ký hợp đồng vĩnh viễn với Edison về việc trông coi, sửa chữa máy cho họ.Edison hăng say làm việc đến nỗi xảy ra một giai thoại hy hữu: Ông quên cả ngày cưới của mình. Trong ngày cưới, ông bỏ mặc quan khách chờ đợi, bỏ xuống phòng thí nghiệm nghiên cứu tiếp chiếc máy. May mà cô dâu biết, cô bảo anh trai cô xuống phòng thí nghiệm tìm. Sau khi lập gia đình, Edison càng hăng say làm việc, tên tuổi ông nhanh chóng vượt ra khỏi khuôn khổ nước Mỹ. Năm 1873, nhận lời mời của Tổng công ty bưu điện Anh, Edison đáp tàu sang Anh. Trong chuyến đi này ông đã thí nghiệm thành công việc đặt máy liên lạc giữa Luân-đôn và Li-vơ-pun. Về nước, Edison lại lao vào những tìm tòi, phát minh mới. Kết quả là chỉ từ năm 1873 đến 1876 ông đã đệ trình tới 45 phát minh lên cơ quan “Tổng quản lý các phát minh và sáng kiến” Mỹ để cấp bằng. Mùa hè năm 1875, Edison viết thư mời cha về ở cùng. Ông Samuen khi ấy đã ngoài bảy mươi, nhận được thư con, ông đi ngay. Tuy già nhưng ông còn rất khoẻ, ông đã giúp con trai trông coi xưởng máy. Ông già còn tìm giúp con trai một khu đất rộng, đẹp, thuận tiện, cách New York 25 dặm, có tên là Menlô Pac- một làng nhỏ và khá đẹp để Edison xây dựng, mở rộng xưởng của mình. Từ đây, Edison cho ra đời rất nhiều phát minh. Edison ký hợp đồng với một liên đoàn sản xuất máy điện thoại nhằm cải tiến loại máy này. Hồi đó điện thoại chỉ nói chuyện và nghe rõ trong một khoảng cách gần. Edison dùng than nguyên chất làm màng rung ở ống nói và thêm một cuộn cảm ứng vào trong máy. Nhờ màng than có độ nhạy cao và tiếp xúc tốt nên dòng điện ở ống nói biến đổi rất đúng với tiếng nói gốc. Nhờ cuộn cảm ứng mà dòng điện một chiều của ống nói được biến đổi thành dòng điện xoay chiều rồi đưa lên đường dây và truyền đi rất xa. ít lâu sau Edison sáng chế ra một số kiểu máy điện thọai khác như điện thoại dùng điện xoay chiều, điện thoại từ thạch, điện thoại cộng điện, điện thoại chạy bằng pin nước, điện thoại chạy bằng pin khô…Một phát minh nữa lại ra đời: ống nói. Một nghiệp đoàn ở Anh vội đánh điện cho Edison: Mua phát minh ống nói, trả ba vạn. Edison đồng ý bán, nhưng khi nhận tiền ông ngạc nhiên thấy ngân phiếu là 75 vạn đô la. Thì ra ba vạn trong ngân phiếu là ba vạn Lia Xiteclinh, quy ra đô la là 75 vạn. Phát minh nối tiếp phát minh và tiền cứ đổ về với ông như nước chảy. Ông phải đặt một văn phòng kế toán ở Menlô Pac gồm 10 người để họ tính toán tài sản thay ông.Chế tạo được máy ghi âm - thành công chấn động nhân loại Từ năm 1877 khi nghiên cứu cải tiến chiếc máy điện thoại tự động, Edison cứ suy nghĩ mãi làm sao giữ được tiếng nói. Ông nhận xét thấy mỗi lần để mũi kim trượt trên một băng bằng kim loại có những rãnh, những lỗ khác nhau thì lại thấy những âm thanh khác nhau phát ra. Đến khi thực hiện cải tiến máy điện thoại, ông lại hiểu thêm rằng những rung động nhẹ của âm thanh có thể truyền đi được bằng dòng điện, như vậy tất phải ghi nó lại được. Thế là ông quyết định làm bằng được “chiếc máy biết nói”. Biết được quyết định này của ông, người thì bảo ông nuôi ảo tưởng, người thì bảo ông suy nghĩ quá hoá rồ, kẻ thì bảo ông ngông cuồng muốn chiếm cả quyền tạo hoá. Mặc, Edison chỉ bảo họ rằng: “Nếu như vậy bao giờ ta mới chế ngự được thiên nhiên”. Sau hai tuần lễ miệt mài trong phòng thí nghiệm, một hôm Edison mời tất cả mọi người vào phòng thí nghiệm. Một chiếc máy kỳ dị đặt trên bàn, Edison mở đầu: “Ai yếu tim thì xin ra ngoài kẻo tôi không chịu trách nhiệm về tính mạng người đó đâu nhé”. Mọi người nhìn nhau, ai cũng rờn rợn, lo sợ, tim đập gấp trong lồng ngực. Edison mở máy và đột nhiên một bài hát quen thuộc của thời đó vang lên rõ ràng “Cô Ma-ri-a có một con cừu bé”. Ai nấy kinh hãi sững người, hết nhìn máy lại nhìn Edison, một người nào đó bảo: “Đức Chúa đã giáng thế”. Khi Edison thông báo cho thế giới biết phát minh của mình thì không ai tin cả, ngay đến ông chủ nhật báo Khoa học Mỹ cũng khăng khăng đó không phải là sự thật. Edison liền mang máy đó đến tận phòng ông ta và mở máy cho hát vang lên những bài ca do chính Edison hát và máy ghi lại. Ông này vội vàng kêu lên: “Ngừng máy lại, trời sụp bây giờ đây này”. Hôm sau trên trang nhất các tờ báo ở Hoa Kỳ đều đăng trang trọng những tít lớn về “Chiếc hộp biết hát”, người ta tranh cướp nhau những tờ báo để đọc, càng đọc càng ngạc nhiên không hiểu nổi. Phát minh này truyền sang châu Âu khiến cả châu lục này ngạc nhiên, nhiều giai thoại thú vị phát sinh quanh chiếc máy này, chẳng hạn ở Nga người ta sợ hãi gọi đây là “chiếc hộp ma quỷ”. Tiếng đồn cũng vang đến tai đức giáo chủ Vanh Xanh ở New York. Giáo chủ không sao tin được nên đến tận nơi đề nghị Edison ghi và phát lại chính tiếng nói của giáo chủ. Sau khi giáo chủ xem xét kỹ … gầm bàn, gầm ghế xem có ai nấp ở đó không, cuối cùng giáo chủ e hèm dọn giọng rồi tuôn ra hàng tràng tiếng La tinh nhanh như gió. Xong việc, giáo chủ xoa tay: “Nào, bây giờ ông cho máy nói thử xem”. Edison mở máy, cái máy đầu tiên cũng e hèm dọn giọng rồi nhắc lại tràng tiếng la tinh đó nhanh y như thế. Giáo chủ sững sờ không đứng lên nổi, người bảo: “Cho đến nay cả nước Mỹ này chưa có ai nhắc lại những lời vừa rồi của cha đâu nhé”. “Nhưng có máy của tôi làm được” - Edison mỉm cười đáp. Thoả mãn trong việc giữ lại tiếng nói, Edison tập trung vào nghiên cứu bóng đèn điện bởi vì ông rất khó chịu khi buổi tối cứ phải làm việc trong ánh đèn dầu tù mù. Ông nhiều đêm mất ngủ vì cái dây tóc bóng điện, nhiều nhà vậy lý đã loay hoay thí nghiệm tìm cái dây tóc bóng điện nhưng đều thất bại. Sau rất nhiều thí nghiệm, Edison nhận thấy chỉ có sợi bông là có vẻ bền hơn cả. Và ngày 21/10/1879, đèn điện ra đời. Cả phòng thí nghiệm hồi hộp theo dõi đôi bàn tay quý giá của Edison. Hai đầu dây điện vừa chập lại với nhau thì một luồng ánh sáng trắng, chói loà như chớp bừng lên. Đèn điện sáng đúng 47 tiếng mới tắt. Tin thành công trong việc chế tạo đèn điện lan truyền khắp chốn. Người ta kéo về Menlô Pác xem bóng đèn điện đông như hội. Đèn điện ra đời đã đem ban ngày thay thế cho ban đêm. Chỉ một thời gian ngắn sau, khắp New York đã được dùng đèn điện. Sau thành công đèn điện, nhờ một sự tình cờ, Edison phát minh ra xe điện. Số là có nhiều người đến xem đèn điện, trong đó có một cụ già đi bộ tới 12 dặm, cụ ngồi nghỉ bên đường và vừa bóp chân vừa đấm lưng. Đúng lúc ấy Edison đi qua, thấy bà cụ thế ông bèn dừng lại hỏi thăm. Bà cụ bảo giá mà Edison nghĩ được cái xe không cần ngựa kéo mà vẫn đi được thì tốt. Thế là trong óc Edison loé lên ý nghĩ làm xe điện. Chỉ cần ba tuần sau xe điện đã ra đời. Giải quyết xong việc chế tạo đèn điện, Edison lại nghiên cứu tiếp việc giữ lại hình ảnh. Sau nhiều thí nghiệm, cuối cùng Edison đã thành công trong việc chụp nhiều hình ảnh liên tiếp trên cùng một băng nhựa. Cũng như lần trước, những người cộng tác với ông và công nhân trong xưởng là những người đầu tiên được xem thành tựu của ông. Hôm ấy Edison mời mọi người vào phòng kín “xem chiếu bóng” : những hình ảnh quen thuộc hàng ngày như những hàng cây trong vườn, đặc biệt là chúng lay động khi gió thổi. Và kìa, một con chó vẫy đuôi. Cuối cùng mọi người ngạc nhiên đến kinh sợ khi thấy Edison xuất hiện trên truyền hình, ông đi đi lại lại, ngã mũ chào. Rồi thì vợ con ông chơi bóng… Đèn bật sáng, mọi người hoan hô và xô lại chúc mừng thành công mới của ông. Tiếp đó Edison phát minh ra đèn ống. Với phát minh này, Edison đã đi bước đầu tiên khám phá ra điện tử. Sau ba năm, Edison đã nhận thêm một bằng phát minh về vô tuyến điện báo. Rồi nền công nghiệp nặng của Hoa Kỳ bắt đầu phát triển mạnh. Các nhà máy, xí nghiệp đòi hỏi số lượng sắt ngày một nhiều. Edison đã góp phần thúc đẩy sự phát triển đó khi nghiên cứu thành công phương pháp lấy sắt khỏi quặng bằng từ trường. Năm tháng trôi qua, phát minh nối tiếp phát minh, Edison chẳng bao giờ chịu nghỉ. Hầu như lúc nào Edison cũng bận rộn với các thí nghiệm, với các ý nghĩ nối tiếp nhau không dứt. Những năm cuối đời, bệnh tình Edison ngày càng nặng nhưng ông vẫn cố gắng làm việc nhiều hơn, có khi suốt đêm trong phòng thí nghiệm. Thầy thuốc và gia đình cố bắt ông nghỉ nhưng cứ xểnh ra lúc nào là ông lại xuống phòng thí nghiệm. Sáng hôm ấy như thường lệ, vợ ông chờ ông ở phòng ăn sáng nhưng mãi không thấy. Bà xuống phòng thí nghiệm gọi ông thì ông đã chết từ khi nào. Đó là ngày 18 tháng 10 năm 1931. Cả bang Vét Orangiơ để tang, cả nước Mỹ đau thương, báo chí mang dải băng tang. Những chiếc máy điện báo - phát minh của ông đã loan báo tin buồn ra khắp thế giới “Edison đã từ trần”. Từng đoàn người nghẹn ngào diễu qua linh cữu ông. Nhà phát minh vĩ đại của nhân loại đã buộc phải nghỉ ngơi vĩnh viễn nhưng tên tuổi ông chói sáng mãi mãi như một vì sao trên bầu trời nhân loại.